Showing posts with label Kiến Thức. Show all posts
Showing posts with label Kiến Thức. Show all posts

Sunday, July 19, 2015

Bệnh mô thần kinh hóa xơ (Multiple Sclerosis)


Multiple Sclerosis, tạm dịch là bệnh “mô thần kinh hóa xơ”, là một căn bệnh còn chưa được hiểu rõ nguyên nhân, trong đó hệ thống miễn dịch của người bệnh tấn công lớp bảo vệ (myelin) bao bọc các dây thần kinh. Lớp myelin bị hư hại khiến sự truyền thông giữa bộ óc và cơ thể bị gián đoạn. Cuối cùng, các dây thần kinh có thể bị hư hại nặng, một tiến trình không thể đảo ngược. Bệnh này khá thông thường, một ca sĩ nổi tiếng của giới ca nhạc Việt Nam đã qua đời vì nó.
Triệu chứng của MS khác nhau rất nhiều ở mỗi người, tùy thuộc vào sự thiệt hại của các dây thần kinh và loại dây nào bị ảnh hưởng. Một số người bị MS nặng có thể mất khả năng đi lại một mình hoặc hoàn toàn không di chuyển được, trong khi những người khác có thể trải qua một thời gian hồi phục, không bị thêm triệu chứng mới.
Bệnh MS không có cách chữa. Tuy nhiên, điều trị có thể giúp phục hồi nhanh, thay đổi tiến triển của bệnh và đối phó với các triệu chứng.
Triệu chứng:
-Tê hoặc yếu một hoặc nhiều chi, thường xảy ra chỉ ở một bên của cơ thể ở một thời điểm, hoặc ở chân và thân mình.
-Mất một phần hoặc toàn bộ thị lực, thường chỉ ở một mắt vào một thời điểm; thường kèm với đau khi cử động mắt.
- Nhìn thấy hai hình hoặc thấy mờ
-Tê ran hoặc đau ở vài nơi trên cơ thể
-Cảm giác như bị điện giật xảy ra khi cử động cổ theo một lối nào đó, nhất là khi gập cổ về phía trước
-Run rẩy, thiếu sự phối hợp hoặc đi lại không vững
-Nói không rõ
-Mệt mỏi
-Chóng mặt
-Vấn đề với ruột và bàng quang
Diễn biến của bệnh
Hầu hết bệnh nhân MS bị bệnh rồi hồi phục rồi tái phát, với các triệu chứng mới (khi tái phát) xảy ra trong vài ngày hoặc vài tuần, rồi hồi phục một phần hoặc hoàn toàn, theo sau là một khoảng thời gian yên lành (thuyên giảm) có thể kéo dài nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm. Nhiệt độ cơ thể tăng chút ít cũng có thể tạm thời làm trầm trọng thêm các triệu chứng của MS, nhưng không phải là một cơn tái phát.
Khoảng 60 đến 70 phần trăm của những người bị bệnh “thuyên giảm rồi tái phát” cuối cùng sẽ đến chỗ ngày càng bị nặng thêm, có hoặc không có giai đoạn thuyên giảm. Các triệu chứng nặng thêm thường là các vấn đề đi đứng. Tốc độ tiến triển bệnh khác nhau rất nhiều giữa những người bị MS.
Một số người mắc bệnh MS lại phát bệnh từ từ và tăng triệu chứng dần lên mà không có thời kỳ tái phát hay thuyên giảm.
Nguyên nhân
Nguyên nhân của bệnh MS chưa được rõ và được cho là do hiện tượng tự miễn nhiễm: hệ thống miễn nhiễm của cơ thể tấn công chính các mô của nó. Trong MS, sự tấn công này phá hủy myelin - phần chất béo bọc ngoài để bảo vệ các sợi thần kinh trong óc và tủy sống.
Myelin có thể được so sánh với các vật liệu cách nhiệt trên dây điện. Khi myelin bị hư hại, sự truyền tín hiệu từ óc theo các dây thần kinh có thể bị chậm lại hoặc bị chặn.
Người ta không hiểu rõ lý do tại sao MS phát triển ở một số người mà không ở những người khác. Kết hợp của các yếu tố khác nhau, từ di truyền cho đến nhiễm trùng ở trẻ em, có thể đóng một vai trò trong việc phát bệnh MS.
Những yếu tố sau có thể làm tăng nguy cơ phát triển bệnh MS:
-Tuổi. MS có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thông thường nhất là nơi những người tuổi từ 15 đến 60.
-Phái tính. Phụ nữ bị MS nhiều gấp đôi nam giới.
-Tiền sử gia đình. Nếu cha hoặc mẹ hoặc anh chị em của bạn đã bị MS, bạn có nguy cơ cao sẽ mắc bệnh.
-Một số bệnh nhiễm trùng. Một loạt các virus đã được liên kết với MS, bao gồm virus Epstein-Barr, con virus gây ra bệnh infectious mononucleosis.
-Giống dân. Người da trắng, đặc biệt là những người gốc Bắc Âu, có nguy cơ cao mắc bệnh MS. Người Mỹ gốc châu Á, châu Phi hay người da đỏ có nguy cơ thấp nhất.
-Khí hậu. MS xảy ra rất nhiều ở các nước có khí hậu ôn đới, gồm miền nam Canada, Bắc Mỹ, New Zealand, miền đông nam Australia và châu Âu.
-Một số bệnh tự miễn nhiễm. Bạn sẽ hơi dễ bị MS nếu có bệnh tuyến giáp trạng, tiểu đường loại 1, hay bệnh viêm ruột.
-Hút thuốc. Những người hút thuốc bị những triệu chứng báo hiệu MS có nhiều nguy cơ bị loạt triệu chứng thứ nhì xác định MS so với người không hút thuốc.
Những người bị MS cũng có thể bị:
-Cứng hoặc co thắt bắp thịt
-Tê liệt, thường ở chân
-Vấn đề với bàng quang, ruột hoặc tình dục
-Tâm thần thay đổi, chẳng hạn như dễ quên hay dễ thay đổi tâm trạng
-Trầm cảm
-Bệnh động kinh
Bạn có thể được giới thiệu đến một bác sĩ chuyên về rối loạn của não bộ và hệ thần kinh để định bệnh.
Định bệnh
Không có thử nghiệm cụ thể để định bệnh MS. Việc chẩn đoán dựa trên sự loại trừ các điều kiện khác có thể có các triệu chứng tương tự.
Bác sĩ của bạn có thể hỏi kỹ bệnh sử của bệnh nhân và khám toàn diện. Sau đó bác sĩ có thể cho làm những thử nghiệm sau:
-Thư máu, giúp loại trừ những bệnh truyền nhiễm hoặc viêm với các triệu chứng tương tự như MS.
-Lấy nước tủy sống, có thể cho thấy những bất thường trong các bạch cầu hoặc các kháng thể được liên kết với MS, cũng có thể giúp loại trừ các bệnh nhiễm trùng do virus và các điều kiện khác với các triệu chứng tương tự như MS.
-MRI, có thể cho thấy các khu vực bị MS trên óc và tủy sống.
-Evokedpotential test. Thử nghiệm này ghi lại các tín hiệu điện sản xuất bởi hệ thống thần kinh khi đáp ứng với các kích thích. Thử nghiệm này có thể sử dụng kích thích thị giác hoặc kích thích điện, trong đó bạn theo dõi một mô hình di chuyển hoặc một mạch điện ngắn cho vào các dây thần kinh ở chân hoặc cánh tay. Điện cực đo mức các thông tin di chuyển trên các đường thần kinh.
Điều trị
Không có cách chữa hết bệnh MS. Điều trị thường tập trung vào việc đẩy nhanh mức phục hồi của các cơn bệnh, làm chậm sự tiến triển của bệnh và trị các triệu chứng. Một số người có các triệu chứng nhẹ không cần phải chữa.
-Phương pháp điều trị các triệu chứng:
Thể lý trị liệu. Giúp bạn giãn và làm mạnh các bắp thịt và dạy cách sử dụng các thiết bị để giúp thực hiện các công việc hàng ngày dễ dàng hơn.
Thư giãn bắp thịt. Bệnh nhân MS có thể bị các cơn co cứng bắp thịt gây đau đớn khủng khiếp, đặc biệt là ở đôi chân. Thuốc thư giãn bắp thịt, chẳng hạn như baclofen (Lioresal, Gablofen) và Tizanidine (Zanaflex) có thể giúp đỡ.
Các loại thuốc để giảm mệt mỏi.
Các thuốc khác. Thuốc trị trầm cảm, đau, và kiểm soát ruột và bàng quang thường xảy ra cho bệnh nhân MS.
Tự giúp
Để giúp làm giảm các và triệu chứng của MS, nên cố gắng:
-Nghỉ ngơi nhiều.
-Tập thể dục. Nếu bạn bị MS nhẹ đến trung bình, tập thể dục thường xuyên có thể giúp tăng sức mạnh, bắp thịt, sự vững vàng và sự phối hợp các cử động tay chân. Bơi lội hoặc tập thể dục trong nước cũng rất tốt nếu bệnh nhân không chịu được nhiệt. Các cách tập từ nhẹ đến vừa nên làm gồm có đi bộ, stretching, thể dục nhịp điệu tác động thấp, xe đạp tại chỗ, yoga và tai chi.
-Giữ mát. Triệu chứng bệnh MS năng lên khi nhiệt độ cơ thể của bạn tăng lên. Do đó nên tránh tiếp xúc với nhiệt và sử dụng các thiết bị như chiếc khăn lạnh hoặc áo khoác lạnh có thể hữu ích.
-Ăn uống cân bằng và khỏe mạnh. Kết quả của các nghiên cứu nhỏ cho thấy ăn uống ít chất béo bão hòa nhưng nhiều acit béo omega-3, như được tìm thấy trong dầu ô liu và cá, có thể có lợi. Nhưng hiện cần có thêm nghiên cứu. Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng vitamin D có thể có lợi ích cho MS.
-Giảm căng thẳng. Stress có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm các triệu chứng của bạn. Yoga, tai chi, massage, thiền hay thở sâu cũng có thể giúp đỡ.
Sống với bất cứ căn bệnh mãn tính nào cũng khó khăn. Để đối phó với sự căng thẳng của cuộc sống với MS, hãy:
-Duy trì hoạt động bình thường hàng ngày.
-Luôn kết nối với bạn bè và gia đình.
-Tiếp tục theo đuổi sở thích mà bạn thưởng thức và có thể làm được.
-Liên lạc với một nhóm hỗ trợ, cho chính mình hoặc cho các thành viên trong gia đình.
-Thảo luận về tình cảm và mối quan tâm của bạn về MS với bác sĩ hoặc các chuyên viên tư vấn.

Sunday, June 14, 2015

Ruồi muỗi có giúp truyền bệnh Ebola hay không?

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng Bệnh của Mỹ, Ebola không truyền lan qua không khí hoặc nước, hay nói chung, qua thức ăn uống. Tuy nhiên, ở Phi Châu, Ebola có thể được truyền lan do việc đụng tới (xử lý) thịt rừng (thú hoang săn để ăn thịt) và tiếp cận với một loại dơi sẵn bị nhiễm virus. Không có bằng chứng nào cho thấy muỗi hay các sâu bọ có thể truyền virus Ebola. Chỉ có loài có vú (ví dụ, người, dơi, khỉ, và khỉ đột) là đã được chứng minh có thể bị nhiễm virus Ebola và truyền Ebola [qua sinh vật khác].
Tuy nhiên, chúng ta nên để ý mấy chữ "chưa có bằng chứng" không đồng nghĩa với "không thể,” hay “sẽ không bao giờ xảy ra.” Có thể chưa có ai nghiên cứu thử đem ruồi, nhúng chân nó nào chất tiết biết có chứa Ebola rồi cho nó đậu vào mắt của một con khỉ xem con khỉ có nhiễm bệnh hay không. Bằng chứng trên con người càng khó hơn nữa và do y đức, chỉ được thu thập một cách gián tiếp, không thí nghiệm được vì đây là bệnh chết người, chưa có thuốc chữa. Thêm nữa các virus cũng có khả năng thích ứng của nó, nên những kiến thức mà chúng ta có hiện nay về Ebola có thể thay đổi, mặc dù theo các khoa học gia thì chuyện này có vẻ chưa xảy ra đối với Ebola.
Riêng về muỗi, muỗi truyền các bệnh như sốt rét (do muỗi Anopheles), yellow fever (bệnh vàng da ở châu Phi), dengue (do muỗi Aedes). Dengue là bệnh phổ biến ở Đông Nam Á (Việt Nam, Philippines), Ấn Độ, Châu Mỹ La tinh, các đảo Caribbean và có thể gây sốt xuất huyết. Tuy nhiên, muỗi không truyền virus Ebola từ người hay thú vật qua người được. Chỉ có con muỗi cái mới “cắn” và hút máu người trước khi nó sinh sản, đẻ trứng. Bình thường muỗi đực và muỗi cái chỉ sống bằng mật hoa (nectar), muỗi cái cần nhất là protein, lipid trong máu để tạo nên và nuôi trứng của nó. Sau khi hút máu, nó phải đậu đâu đó vài ngày, tiêu hoá lượng máu đó rồi đi kiếm vũng nước để đẻ trứng. Sau đó muỗi cái mới đi kiếm ăn lại từ các mật hoa.(2)
Khác với virus Ebola, một số ký sinh hay virus bệnh khác qua một quá trình tiến hoá đặc biệt, có khả năng thoát khỏi quá trình tiêu hoá của con muỗi và đi vào tuyến nước miếng của muỗi. Lúc muỗi "cắn,” hạch nước miếng của nó bơm vào cơ thể nạn nhân và gây bệnh. Nước miếng muỗi tiết ra trước khi hút máu và trong khi đang hút giúp cho máu không đông lại, không làm nghẽn vòi hút máu. Ví dụ ký sinh trùng sốt rét plasmodium, từ lúc từ máu người thứ nhất vào cơ thể muỗi, phải thay đổi qua 5 giai đoạn khác nhau trước khi chực sẵn trong tuyến nước miếng con muỗi và được truyền qua người thứ hai.
Trong trường hợp bệnh sốt xuất huyết do virus dengue, dengue chỉ sống sót được trong loài muỗi tên là Aedes, loài muỗi này có những đặc tính như đẻ trứng trong những bình đựng nước nhân tạo, muỗi cái thích cắn người hơn là cắn các động vật có vú khác, thích ở gần nơi người ở. Sau khi được hút cùng máu người vào thân muỗi, virus dengue vào vách ruột của muỗi, và di chuyển đến tuyến nước miếng con muỗi và tồn tại ở đó cho hết suốt đời con muỗi. Hiện nay, một trong những cách ngăn chặn bệnh sốt rét hay sốt xuất huyết do dengue là cấy một loại vi khuẩn khác (Wolbachia) vào con muỗi cái, sự hiện diện của con vi khuẩn này trong thân muỗi làm virus dengue hay ký sinh trùng falciparum không sống sót được trong thân muỗi, do đó con muỗi không truyền bệnh dengue hay sốt rét được.
Nói một cách khác, muỗi chỉ truyền được bệnh từ người này qua người khác chỉ trong trường hợp cơ thể muỗi chấp nhận con virus hay ký sinh trùng đó trong cơ thể của nó. Hiện nay chúng ta chưa thấy trường hợp con muỗi nào chấp nhận virus Ebola trong hạch nước miếng của nó và do đó cũng chưa ghi nhận được trường hợp muỗi truyền Ebola.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Tim bẩm sinh phức tạp

Tâm thất phải có hai đầu ra (trường hợp kèm theo kênh nhĩ thất, tâm thất trái nhỏ hơn bình thường)
Double Outlet Right Ventricle (with Atrioventricular canal and Left Ventricle Hypoplasia) 
Sinh lý và cơ thể học:
Hình vẽ minh họa tim 
Bình thường, máu từ các tĩnh mạch đổ dồn về tim, màu “đen” vì oxy trong máu đã được các bộ phận xài bớt rồi được đem về tim phải, đi vào một cái túi nhỏ của tim, hình giống như cái tai nên gọi là [tâm] nhĩ phải (right atrium, RA), đi qua một cái van ba lá (tricuspid valve), đi vào ngăn nằm dưới của tim gọi là [tâm] thất phải (Right Ventricle, RV). Lúc tâm thất bóp lại (thu tâm, systole), máu được bơm vào động mạch phổi (pulmonary artery, PA), đi vào phổi, máu được thêm oxy từ không khí phổi hít vào (làm máu đỏ tươi), CO2 được thải ra, và máu nay đã giàu oxy chạy về tim trái, vào tâm nhĩ trái (left atrium, LA), đi qua van hai lá (mitral valve), rồi được tâm thất trái (left ventricle, LV) bơm vào động mạch chủ (aorta; đại động mạch), ra châu thân để đáp ứng nhu cầu của các bộ phận khác nhau (như óc, bắp cơ, gan, phổi, tim, vân vân), xong rồi được đưa về tim phải.
Phần trên trái tim có tâm nhĩ trái và tâm nhĩ phải nằm kề nhau, tim bên dưới có tâm thất phải và tâm thất trái; phần trái và phải được ngăn cách nhau bằng một cái vách ở giữa tim, hai bên là hai cái van nhĩ thất (nghĩa là nối liền nhĩ với thất, atrio ventricular valves, AVV), vì thế máu chảy song song hai bên trái và phải mà không giao lưu với nhau, không trộn với nhau. Cái phần giữa của trái tim đó gọi là kênh nhĩ-thất (atrioventricular canal).
1)    Trong bệnh Tâm thất phải có hai đầu ra (Double Outlet Right Ventricle, DORV), máu từ tâm nhĩ phải (RA) đi vào tâm thất phải, thoát ra bằng hai lối, lên phổi qua động mạch phổi (pulmonary artery) (là chuyện bình thường), nhưng đồng thời cũng thoát ra động mạch chủ (aorta)(là chuyện bất bình thường).
2)    Trong bệnh khuyết tật kênh nhĩ thất toàn phần (complete atrio-ventricular defect), có một cái lỗ lớn nằm giữa trái tim, vách ngăn hai tâm nhĩ và tâm thất không nguyên vẹn, do đó hai dòng máu chảy (máu đen và máu đỏ) đáng lẽ tách rời nhau thì nay trộn lẫn với nhau (từ trái qua phải lúc đầu, left to right shunt).
•    Bệnh kênh nhĩ-thất cũng có thể nằm trong hội chứng rượu thai nhi (fetal alcohol syndrome) do người mẹ uống rượu nhiều lúc có bầu.
•    Một loại thuốc uống trị các chứng mụn trứng cá, retinoic acid, có thể liên hệ đến bệnh tim này ở con cái người uống thuốc.
3)    Trong bệnh Tâm thất phải có hai đầu ra (DORV), động mạch chủ (aorta) không xuất phát từ tâm thất trái (LV) để đem máu giàu oxy đi nuôi cơ thể, mà lại xuất phát từ tim bên phải (RV, là chuyện bất bình thường). Tim bên trái (LV), do đó không có lối thoát để đẩy máu ra ngoài châu thân, không làm việc được, nên không phát triển bình thường, nhỏ hơn bình thường, nên gọi là left ventricle hypoplasia (LVH) ( “kém phát triển tâm thất trái,” hypo=thấp, dưới, plasia=phát triển, tăng trưởng). Trong trường hợp ở đây, tâm thất trái thông với tâm thất phải qua chứng kênh tâm thất (atrio-ventricular defect), nên máu bên tâm thất trái qua được bên tâm thất phải, từ đó vào hệ tuần hoàn được, nhưng máu xanh thấp oxy và máu đỏ (có oxy cao) lẫn lộn với nhau.
Chữa trị:
Em bé cần được sinh ra trong một nhà thương có khả năng săn sóc trẻ sơ sinh với những rối loạn trầm trọng (neonatal intensive care unit).
Các biện pháp có tính cách tạm thời:
•    oxy
•    dùng thuốc trợ tim digitalis làm cho tim bóp mạnh hơn
•    thuốc lợi tiểu (furosemide) giúp cho cơ thể thải nước dư, bị ứ đọng lại do suy tim.
Trị liệu bằng phẫu thuật, thường được thực hiện trong những năm đầu. Phẫu thuật có thể có mục đích dùng một hoặc hai tâm thất cho việc bơm máu:
1)    Nếu tâm thất trái (LV) không dùng được, bs cho máu tĩnh mạch bên tâm nhĩ phải (RA) vào thẳng động mạch phổi (PA)(Fontan Operation)), dùng tâm thất Phải (RV) thay thế tâm thất Trái (LV, quá nhỏ); bệnh nhân chỉ dùng một tâm thất (single ventricle operation).
2)    Một số bs chuyển động mạch chủ (Aorta) qua Tâm thất phải, dùng tâm thất phải (mạnh hơn, hoạt động bình thường, tốt) để bơm máu cho toàn thân, và nối tâm thất trái (LV, quá yếu và nhỏ) với động mạch phổi, để bơm máu lên phổi (pulmonary circulation), (là một việc nhẹ hơn nhiều), nhưng giúp máu từ cơ thể đi về lưu thông vào phổi tốt hơn, không bị ứ đọng. 
Ở Mỹ phẫu thuật cho hypoplastic left ventricle  thường thực hiện qua ba giai đoạn (three stage palliative procedure):
•    giai đoạn 1 (newborn), chừng 3 tuần (200.000 US$),
•    giai đoạn 2 (6-8th), 8 ngày, 80.000US$
•    giai đoạn 3, 11 ngày trong bệnh viện( tốn chùng 80.000)
Mục tiêu chính của ba cuộc giải phẫu là đem máu đen (từ các bộ phận của cơ thể trở về tim, chứa lượng oxy thấp) vào trực tiếp vào động mạch phổi, không đi qua tâm thất phải (RV). Dùng tâm thất phải thay thế cho tâm thất trái (quá nhỏ và yếu) trong nhiệm vụ bơm máu nuôi cơ thể.
Tỷ lệ sống sót sau phẫu thuật giai đoạn 1 (Norwood) chừng 90-97%. Các bệnh viện trẻ em lớn ở Mỹ đều có khả năng chữa các bệnh này. Sau một năm, 64%-74% sống sót. [2]
Những trường hợp nặng quá phải thay tim (heart transplant). Tỷ lệ sống sót cho tất cả các nhóm sau 5 năm chừng 70%. Bệnh nhân cần được săn sóc theo dõi lâu dài, một số vấn đề về khả năng học hỏi (learning disabilities), cơ thể dễ bị nhiễm trùng hơn, cần được chú ý đặc biệt. Bệnh nhân bị kém phát triển tâm thất trái (LVH) chỉ mới được chữa bằng phẫu thuật trong vòng 30 năm nay thôi, nên dự hậu xa hơn chúng ta chưa biết được.
Tìm hiểu về giải phẫu tim sơ sinh tại Việt Nam, tôi có cảm tưởng hình như Bệnh viện nhi Trung ương có điều trị những trường hợp "Thất phải hai đường ra" (DORV) có hai tâm thất cân bằng (phẫu thuật sửa chữa toàn bộ"[2]), nhưng không thấy nhắc đến trường hợp thất trái teo lại đi kèm như trường hợp thính giả hỏi. Tốt hơn hết là hỏi bác sĩ chuyên về tim của em bé ở Việt Nam.
Ở Mỹ, trường hợp tương tự cần sự cộng tác của bác sĩ nhi khoa là người theo dõi em đều đặn và hiểu em và gia đình, hoàn cảnh xã hội của em hơn cả, bác sĩ tim nhi khoa (pediatric cardiologist) là người chú tâm vào khía cạnh định bệnh và điều trị vấn đề tim mạch, bác sĩ giải phẫu tim mạch là người nghiên cứu xem em có cần can thiệp giải phẫu (surgical intervention) hay không, có nên giải phẫu hay không, và nếu can thiệp thì làm thủ thuật (procedure) nào.
Các tin tức trên đây căn cứ trên y văn hiện có, hoàn toàn có tính cách thông tin. Đây là một vấn đề rất chuyên môn và phức tạp, cho nên tôi chỉ xin trả lời trong giới hạn khả năng của một bác sĩ nhi khoa mà thôi.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Mức men amylase tùy tạng trong máu lên cao

Tùy tạng (pancreas) là một bộ phận nằm trong bụng, phía trên, sau dạ dày, phụ trách hai vai trò quan trọng.
  • Một là vai trò nội tiết (endocrine), sản xuất insulin, insulin vào máu để giúp các tế bào cơ thể dùng được glucose biến nó thành năng lượng. Nếu không đủ insulin, sẽ gây ra bệnh tiểu đường (diabetes). Tùy tạng cũng sản xuất glucagon, là một hormon làm tăng mức đường trong máu.
  • Hai là vai trò ngoại tiết (tiết ra ngoài, không tiết vào máu; exocrine function): một số men được dẫn qua một ống chảy vào tá tràng (duodenum), đoạn đầu của ruột non (small intestine), chung với ống mật từ gan qua, để giúp tiêu hoá các thức ăn đến từ dạ dày.
Men (enzyme) tùy tạng có nhiều thứ: amylase, lipase, protease.
  • Lipase, cùng với mật do gan sản xuất, giúp cho ruột tiêu hoá các chất mỡ, làm cho chúng thành những hạt nhỏ hơn dễ hấp thụ.
  • Protease là men giúp cho ruột tiêu hoá các protein.
  • Amylase giúp tiêu hoá các chất tinh bột (starch), biến chúng thành những phân tử đường nhỏ hơn, giản dị hơn, để ruột có thể hấp thụ được vào máu và đem đi đến các bộ phận dùng làm nguồn năng lượng.( from Greek: Amylon= starch, tinh bột)
  • Tuyến nước miếng (salivary gland) cũng sản xuất nhiều amylase (S-type isoamylase), có thể phân biệt được với amylase tùy tạng (P type isoamylase).
Lúc tùy tạng hoặc tuyến nước miếng bị tổn thương (vd viêm hay chấn thương), lượng amylase tăng trong máu (hyperamylasemia).
Ở đây chúng ta chỉ giới hạn trong các bệnh mà amylase nguồn gốc từ tùy tạng lên cao. Bác sĩ thường thử mức amylase trong máu để củng cố một định bệnh viêm tùy tạng (pancreatitis). Trong bệnh viêm tùy tạng cấp tính (acute pancreatitis), ngày đầu tiên lúc các triệu chứng xuất hiện (như đau bụng, ói mửa), mức amylase tăng lên gấp ba hoặc nhiều hơn mức bình thường trong 75% trường hợp, sau 3-7 ngày thì trở lại bình thường.Tuy nhiên, trong những bệnh nhân bị viêm tùy tạng mãn tính (kinh niên), có thể mức amylase vẫn bình thường. Ngược lại, một người có mức amylase cao mãn tính thường lại do một nguyên nhân ngoài tuyến tùy tạng.
Amylase gốc tùy tạng (P-type amylase) tăng cao còn có thể do nhiều nguyên nhân khác ngoài viêm tùy tạng:
  1. Bệnh đường mật
  2. Chấn thương tùy tạng (pancreatic trauma) do tai nạn, đánh vào vùng tùy tạng, hay nội soi với ống soi đi ngược vào ống mật và tùy tạng (ERCP, endoscopic retrograde cholangiopancreatography)
  3. Thận suy, gan suy là giảm cơ chế biến dưỡng hủy amylase (decreased metabolic clearance).
  4. Bệnh đường ruột, làm amylase trong lòng ruột hấp thụ vào máu nhiều hơn.
  5. Một số tình huống khác như ung thư, thai ngoài tử cung (ectopic pregnancy).
  6. Chấn thương, hậu giải phẫu có thể làm men tùy tạng trong máu tăng lên cao, nghi là do cơ chế gián tiếp (tùy tạng bị thiếu máu, ruột bị tổ thương nên amylase trong ruột vào máu nhiều hơn.)
  7. Macroamylasemia (macro= to, "đại"): amylase gắn liền với một phân tử protein lớn, nên thận lọc chất này rất chậm, làm mức amylase trong máu cao lên. Bệnh nhân vẫn thấy bình thường, tuy nhiên trường hợp hiếm, có thể thấy hiện tượng này đi chung với bệnh nhiễm HIV, bệnh ruột celiac,bệnh phong thấp.
Tóm lại, men amylase có thể xuất phát từ tuyến nước miếng cũng như tùy tạng. Men amylase gốc tùy tạng tăng lên cao chỉ cho bác sĩ hướng về một bệnh nào đó đang làm hư hại các tế bào của tùy tạng, thường nhất là viêm tùy tạng cấp tính. Hoặc hoặc ít gặp hơn, ung thư tùy tạng (pancreatic cancer), viêm tùy tạng mãn tính.
Tuy nhiên, đây chỉ là một chỉ dấu cận lâm sàn (paraclinical finding), từ phòng thí nghiệm. Bác sĩ phải xét đến nhiều yếu tố ((như bệnh nhân có triệu chứng gì, có đau bụng hay không, đau ở đâu, thường bệnh nhân đau bụng trên, lan ra phía sau lưng, đi cầu phân có mỡ nếu thiếu men lipase tùy tạng; có các yếu tố cơ nguy (risk factors) như mỡ triglycerides cao, nghiện rượu, chấn thương hay không)), có thể làm những xét nghiệm khác, hay nếu cần đi xa hơn các kỹ thuật hình ảnh như siêu âm, CT, MRI, để giải thích sự bất thường trong lượng men tùy tạng đo được trong máu, tại sao amylase lại tăng lên cao.
Những nhận xét trên đây có tính cách hoàn toàn thông tin để chúng ta cùng học hỏi. Thính giả cần hỏi trực tiếp bác sĩ của mình và được bác sĩ hướng dẫn, ít lắm là tránh hiểu lầm những tin tức mình đọc được, rồi lo âu quá đáng.
Chúc bệnh nhân may mắn.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Chảy máu răng và tia laser trong nha khoa

  1. Chảy máu răng, đúng hơn ở nướu răng, có thể do nhiều nguyên nhân. Một số là nguyên nhân tổng quát liên hệ tới tình trạng sức khoẻ chung như thiếu vitamin C, máu không đông bình thường, v.v.
  • Người thiếu vitamin C (scurvy) có thể sưng nướu răng và chảy máu, cũng như dễ chảy máu những nơi khác. Khác với đa số các sinh vật khác, chúng ta không tổng hợp vitamin C được. Vitamin C lại cần thiết cho chất collagen trong mô liên kết xương và mạch máu. Do mạch máu bị yếu đi, người thiếu vitamin C dễ chảy máu, nhất là trong niêm mạc miệng.
  • Chảy máu nướu răng (cũng như chảy các nơi khác như mũi, da, khớp xương) cũng có thể do máu không đông bình thường. Điều này có thể do nhiều nguyên nhân, ví dụ như máu không đông bình thường do di truyền, do ung thư phá huỷ các tiểu bản (platelet, tế bào nhỏ trong máu kết tụ khi cần hàn gắn các vết thương, làm ngưng chảy máu).
Ở đây chúng ta đã chắc chắn là nguyên nhân hoàn toàn do răng.
  1. Bệnh chu nha (periodontal disease, periodontitis) là nguyên nhân về răng thường gặp nhất. Bệnh chu nha là bệnh nhiễm khuẩn mãn tính của nướu răng và xương bao bọc quanh chân răng; nếu không chữa, bệnh nặng có thể đi đến rụng răng. Viêm nướu răng (gingivitis) do nướu răng phản ứng với plaque, là những chất dẻo và dính (“cao” răng) do vi khuẩn đọng lại, để lại trên mặt ngoài của răng. Dần dần, chất vôi calcium đọng thêm vào, biến thành đá răng (tartar hay calculus), cần được nha sĩ dùng dụng cụ lấy ra. Viêm nướu là bước đầu, sẽ tiến triển thành viêm chu nha (periodontitis).
Bệnh chu nha là một yếu tố cơ nguy làm tăng tỷ lệ bệnh tim mạch, bệnh sưng phổi (pneumonia), tình trạng có bầu sinh non (prematurity), sinh con nhẹ cân (low birth weight).
  1. Lúc mới bệnh chu nha các biện pháp sau đây có thể giúp lành bệnh:
  • Vệ sinh răng miệng: đánh răng 2 lần mỗi ngày (sáng, tối trước khi đi ngủ).
  • Dùng chỉ răng (dental floss) thường xuyên, hay dùng máy bơm xịt nước rửa các kẽ răng (waterpik).
  • Thuốc súc miệng để giảm plaque và giảm khuẩn (mouthwash), vd chlorhexidine (prescription in U.S.)
  • Ngưng hút thuốc lá; rất quan trọng. Dùng thuốc lá dưới mọi hình thức (thuốc điếu, thuốc tẩu, nhai) đều làm sức khoẻ tế bào nướu răng kém đi (oxy do máu cung cấp cũng giảm), giảm sức đề kháng chống nhiễm trùng nên dễ bị viêm nướu răng, và tăng lượng plaque ("cao răng"). Ngoài ra thuốc lá làm răng đen (staining), hơi thở hôi, và tăng cơ nguy ung thư vùng miệng cũng như ung thư phổi.
  • Uống rượu có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ răng: người uống rượu, nhậu buổi tối, say và đi ngủ không đánh răng. Ngoài ra, uống rượu nhiều có thể đi đôi với những thiếu sót trong ăn uống, suy dinh dưỡng, thiếu vitamin.
  • Đi khám nha sĩ thường xuyên để được hướng dẫn vệ sinh răng miệng, cạo răng, lấy đá răng, chữa bệnh lúc còn sớm nếu có.
  1. Có những trường hợp cần bác sĩ nha khoa giải phẫu:
  • Phẫu thuật giảm thiểu các túi chứa vi khuẩn chung quanh răng (pocket reduction surgery): kéo nướu xuống, lấy các chất bẩn ra, mài mặt xương răng bị lồi lõm hư hại nơi các vi khuẩn có thể "trốn" (sequestered bacteria) trong đó.
  • Phẫu thuật "cải tạo", "tái sinh" (regenerative surgery): kéo nướu xuống, dùng những màng, xương ghép (bone graft) hay những protein kích thích xương và mô mọc lại (tissue stimulating protein).
  • Kéo đường nướu răng xuống thấp hơn (crown lengthening), để lộ phần răng lành mạnh ra nhiều hơn.
  • Hoặc nếu đường nướu răng bị tuột xuống quá thấp, làm lộ chân răng, là răng quá nhạy cảm, dễ ê răng, đau răng, dùng ghép mô mềm lấy từ chỗ khác (ví dụ vòm họng)(soft tissue graft) để bảo vệ chân răng và làm cho nụ cười đẹp hơn.
Các dụng cụ dùng tia laser có thể được dùng trong các thủ thuật trên, với mục đích làm bệnh nhân thoải mái hơn, ít đau hơn. Ở Mỹ Cơ quan Quản trị Thực phẩm và Thuốc men ( FDA) chấp nhận các dụng cụ laser này, trên cơ sở là kết quả có thể so sánh với kết quả theo phương pháp truyền thống. Tuy nhiên, phương pháp laser chưa được chứng minh dứt khoát là tạo nên kết quả tốt hơn hẳn phương pháp truyền thống. Các dụng cụ laser rất đắt tiền (chừng 40.000 đô la Mỹ so với máy khoan răng [mechanical dental drill] giá 600 đô). Hội Bác sĩ Nha khoa Mỹ (ADA) không khuyến khích các dụng cụ này (no ADA seal of acceptance) và hình như các trường đại học nha khoa Mỹ cũng không có môn này trong chương trình.
LASER: "khuếch đại ánh sáng bằng phát xạ kích thích" ("light amplification by stimulated emission of radiation"). Laser là một tia ánh sáng, dùng để chuyên chở năng lượng, dùng để cắt hoặc phá huỷ, không phải là một tia phóng xạ. Cho nên theo như tôi biết dùng laser cho người bệnh không đem đến những rủi ro về phóng xạ.
Tóm lại, nếu bệnh nhân bị chảy máu vì sưng nướu răng, nên bàn với bác sĩ về những phương pháp trị liệu khác nhau, như phẫu thuật theo lối truyền thống hay kết hợp với dụng cụ laser. Quan trọng không kém, là bệnh nhân cần chủ động và kỷ luật tuân theo những biện pháp vệ sinh răng miệng mà bác sĩ đề ra, mà chúng ta bàn sơ ở phần trên.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Glucosamine và bệnh gout

Bệnh gout gây ra những cơn đau khớp cấp tính, thường là khớp xương ở gốc ngón chân cái, nối liền bàn chân và xương ngón chân. Ngón chân sưng to, đỏ và nóng, và cơn đau có thể thức bệnh nhân dậy lúc đang ngủ, đến mức tấm chăn đắp nhẹ đụng vào cũng làm đau đớn thêm. Các khớp xương khác của bàn chân, khớp cổ chân, cổ tay, bàn tay đều có thể bị đau. Khoảng 4­-12 giờ đau khi khởi đầu là lúc đau nhất. Sau đó đau dai dẳng có thể kéo dài vài ngày hay vài tuần. Đàn ông bị nhiều hơn phái nữ, tuy nhiên sau khi tắt kinh, phụ nữ dễ bị gout hơn.  
Purine là một chất có bình thường trong cơ thể chúng ta cũng như có nhiều trong một số thức ăn như steak thịt đỏ, các nội tạng thú vật (gan, thận), hải sản. Những purine này lúc bị cơ thể chuyển hoá thì sinh ra chất uric acid tuần hoàn trong máu. Bình thường, uric acid sẽ được thận thải qua nước tiểu, tuy nhiên nếu cơ thể sản xuất uric acid nhiều quá, hay thận bài tiết ra uric acid ít quá, mức uric acid trong máu sẽ quá cao. Một số nước uống như rượu (nhất là bia), nước ngọt có chứa nhiều chất đường fructose (từ trái cây) cũng làm cho mức uric acid trong máu cao hơn. Nếu mức uric acid quá cao, các tinh thể urate đọng lại trong khớp xương và gây ra viêm khớp, gồm những triệu chứng sưng, đỏ và đau, là những triệu chứng của bệnh gout.  
Yếu tố cơ nguy và biện pháp phòng ngừa:
1.    Những bệnh như bệnh mập, bệnh tim, bệnh thận, áp huyết cao, hội chứng chuyển hoá (gồm bệnh mập nhiều mỡ bụng + cao áp huyết + lượng cholesterol tốt thấp + nhiều mỡ triglycerides trong máu);
2.    Thuốc men: thuốc lợi tiểu loại thiazide, aspirin (vd aspirin liều thấp hay "baby aspirin" một số người lớn tuổi uống hàng ngày để ngừa bệnh tim mạch);
3.    Nam giới nhiều hơn nữ giới. Phụ nữ sau khi tắt kinh mức uric acid cao hơn, gần bằng nam giới;
4.    Yếu tố gia đình, di truyền;
5.    Chấn thương, hậu giải phẫu;
6.    Corn syrup được dùng phổ biến hiện nay trong công nghệ thực phẩm chứa rất nhiều fructose, kể cả formula trẻ em, bánh kẹo, vì corn syrup ngọt hơn và rẻ hơn đường mía. Fructose được chứng minh liên hệ với mức uric acid trong máu cũng như áp huyết tăng lên đáng kể ở các thanh niên dùng nước uống ngọt- như nước trái cây, nước sinh tố nhiều. Tóm lại, tránh ăn và uống đồ ngọt;
7.    Nên uống nước đầy đủ để có đủ lượng nước tiểu đẩy các tinh thể uric acid ra ngoài, tránh sự thành hình các sạn trong thận. Sạn có thể làm hư hại thận, làm nghẽn đường thoát của nước tiểu, gây ra điều kiện thuận tiện cho nhiễm trùng đường tiểu; kết quả là giảm cơ năng thận, làm việc lọc uric acid kém đi, và lại làm bệnh gout nặng hơn nữa.Nói chung ở Mỹ, người ta khuyên nên uống 64 0z nước/ 24 giờ, tương đương với chừng 2 lít nước, hay 8 ly nước (x8 oz).

Biến chứng
: gout không chữa có thể tái hồi (recur), urate lâu ngày đọng dưới da làm những chỗ sưng gọi là tophi nổi lên ở bàn chân, bàn tay, khuỷu tay, gân Achille sau gót chân, lâu ngày các tophi có thể đau đớn. Urate có thể đọng trong thận và đường tiểu thành sạn.

Bác sĩ định bệnh căn cứ trên các triệu chứng, có thể thử nghiệm mức uric acid và creatinine trong máu; rút nước từ khớp xương (arthrocentesis) để tìm các tinh thể urate hình kim; chụp X quang; MRI; CT scan; siêu âm khớp và tophi nếu cần. Tuy nhiên, người có mức uric acid cao có thể không đau nhiều, trong lúc người viêm khớp nhiều cũng có thể có mức uric acid không cao.  
Chữa trị:  
1.    Thuốc giảm viêm không phải corticoid (NSAIDS) như ibuprofen (Advil, Motrin), naproxen (Aleve); mạnh hơn và cần toa như indomethacin, celecoxib (Celebrex). Dùng những thuốc này phải cẩn thận có thể là xót hay chảy máu đường tiêu hoá (bao tử, ruột).
2.    Colchicine lúc đau cấp tính, sau đó liều thấp hơn để chặn các cơn đau trở lại. Phản ứng phụ: ói mửa, tiêu chảy.
3.    Corticoid: nếu không dùng được các thuốc trên.
4.    Những người bị nhiều lần/năm có thể cần dùng .
5.    Thuốc giúp cơ thể bớt sản xuất ra uric acid (allopurinol; phản ứng phụ nổi mẩn ngoài da, giảm tế bào máu).
6.    Thuốc giúp thận thải uric acid nhiều hơn (probenecid). Phản ứng phụ: nổi mẩn, đau bao tử, sạn thận.
7.    Glucosamine là một loại "bổ sung dinh dưỡng" (nutritional supplement) bán không cần toa rất thịnh hành để "cải thiện sức khoẻ sụn" trong các khớp xương. Vì chưa có bằng chứng dứt khoát là chất này chữa được các bệnh viêm khớp, ở Mỹ FDA không cho phép quảng cáo chất này là "dược phẩm" (drug) dùng để trị liệu. Dạng có lẽ hữu hiệu nhất là glucosamine sulfate, có thể chung với "nutritional supplement" khác như chondroitin sulfate.
8.    Glucosamine được sản xuất từ vỏ của shellfish gồm những con vật có "bộ xương ngoài" (exoskeleton ) như tôm, cua, tôm hùm, sò hến. Exoskeleton chứa nhiều chất chitin, từ đó trích ra glucosamine bằng thuỷ phân. Tuy nhiên, glucosamine được chế biến từ exoskeleton chứ không phải từ thịt các con vật shellfish này nên không chứa purine. Do đó glucosamine không ảnh hưởng đến gout mà cũng không chữa được bệnh này.
9.    Có những sản phẩm glucosamine "chay" (vegetarian) chế biến:
i.    từ nấm, không phải từ tôm cua, và dành cho những người ăn chay hoặc tránh tôm cua (Do Thái cần thức ăn đúng tiêu chuẩn Kosher diet) như Regenasure (từ nấm Aspergillus niger) hay JointAstin (do Cyanotech sản xuất);
ii.    từ bắp (corn): GreenGrown glucosamine (do Ethical Naturals).
Tham khảo: (http://www.nutraingredients­usa.com/Suppliers2/Another­vegetarian­glucosamine­launched­in­US)
 

Chúc bệnh nhân may mắn.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Chữa trị viêm tai giữa cấp tính

Mỗi đứa trẻ, mỗi trường hợp bệnh mỗi khác, nếu không phải là bác sĩ của bé thì không thể trả lời cho những câu hỏi của bà được. Sau đây là những nhận xét chung mà thôi.
Em bé đau tai thường là bệnh "viêm tai giữa cấp tính" (acute otitis media). Tuy nhiên, có thể đau vì nguyên nhân khác, như viêm tai ngoài (external ear infection), chấn thương tai (ví dụ do tát tai mạnh, do ngoáy tai đâm thủng màng nhĩ), hay đau những bộ phận kế cận (sưng hạch, đau họng).
Nếu nhìn vào lỗ tai, chúng ta thấy ống tai (ear canal) sau đó đến màng nhĩ (tympanic membrane), sau màng nhĩ có một khoảng trống nhỏ là tai giữa (middle ear) chứa ba cái xương để truyền dẫn âm ba từ màng nhĩ. Sau đó là một ngăn khác, gọi là tai trong (inner ear). Tai trong chứa các bộ phận biến các rung động âm thanh thành những kích thích điện được dẫn truyền vào não bộ (vai trò tương tự như máy vi âm biến âm thanh thành dòng điện trước khi chuyển dòng điện vào máy ampli.)
Lúc tai giữa bị nhiễm trùng (otitis media) , bác sĩ dùng đèn nhìn vào tai , thấy màng nhĩ đỏ, sưng, phình ra, và giảm bớt tính di động, căn cứ vào đó bác sĩ định bệnh là viêm tai giữa.
Tuy nhiên, định bệnh có thể sai vì khó quả quyết, ví dụ bé khóc, bé nóng sốt, màng nhĩ có thể đỏ mà không phải viêm tai.
Do đó, có thể bác sĩ sẽ khám lại, hoặc hẹn lại sau vài ngày mà không cho kháng sinh trong một số trường hợp nhẹ.
Trong đại đa số trường hợp bác sĩ ở Mỹ dùng kháng sinh. Theo phác đồ điều trị của hội bác sĩ nhi khoa (AAP) và hội bs gia đình, thuốc đầu tiên được dùng là amoxicillin (màu hồng, trẻ thích uống), uống chừng mười ngày, với liều cao hơn liều thường thấy (80-90mg/kg). Nếu sau 2-3 ngày, bệnh nhân không thuyên giảm, ví dụ còn sốt cao, còn đau nhiều, bác sĩ cần khám lại xem có đúng bệnh không (ví dụ bệnh nhân có thể sốt vì bệnh cúm, hay bị nhiễm trùng đường tiểu đi kèm), bác sĩ sẽ thay bằng thuốc trụ sinh khác, có thể chích một mũi (ceftriaxone), hoặc uống 5 ngày hay 10 ngày một kháng sinh có thể đáp ứng tốt hơn với một con vi khuẩn nào đó mà bác sĩ nghi lờn với amoxicillin, theo kinh nghiệm của bác sĩ.
Dùng kháng sinh 10-20 ngày cho trẻ 18 tháng không phải là hiếm, và nếu dùng đúng liều, đúng chỉ định, và theo dõi kỹ các phản ứng phụ có thể xảy ra, trong đại đa số trường hợp không gây hại gì cho em bé, dù là em bé 18 tháng. Tôi thiết nghĩ, bác sĩ nào cũng đã được huấn luyện bài bản trong thời gian khá lâu, nhất là ở Mỹ bác sĩ hành nghề bị kiểm soát chặt chẽ theo các chuẩn mực của cộng đồng y khoa và  cũng cân nhắc kỹ lưỡng trước khi cho toa. Nếu chúng ta thắc mắc thì nên hỏi lại, như vậy tốt hơn là nghi ngờ và lo âu trong lúc vẫn dùng thuốc bác sĩ kê toa.
Sau khi chữa bệnh viêm tai giữa xong, thường người ta khuyên nên trở lại khám. Dù không còn viêm (sưng, làm mủ, cấp tính), nên cho bác sĩ xem lại có hết hẳn bệnh chưa. Người ta thường hẹn trở lại sau 4-6 tuần, bác sĩ sẽ kiểm lại xem có còn dịch (fluid) trong tai giữa hay không (otitis media with effusion), nhất là nếu có gặp khó khăn trong lúc chữa bệnh hoặc, những trẻ mà viêm tai giữa tái đi tái lại nhiều lần. Một phần ba các trẻ đã bị viêm tai giữa 6 lần trước sinh nhật 7 tuổi. Sau khi chữa xong, nếu còn dịch dai dẳng trong tai giữa, thính giác có thể bị ảnh hưởng, làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển ngôn ngữ. Cho nên sau 4-6 tuần nếu phòng tai giữa không hết tràn dịch, bác sĩ sẽ theo dõi thêm sau 4-6 tuần nữa. Nếu vẫn còn tràn dịch tai giữa, cần thử thính giác của trẻ, đo độ di động của màng nhĩ (tympanography). Nếu tràn dịch kéo dài, nhất là nếu thính giác giảm đáng kể (>20dB) 3 tháng sau khi bị viêm tai giữa, cần xem xét những bệnh liên hệ như amidan quá lớn, bệnh dị ứng làm tai giữa không thoáng khí, hay nhờ bác sĩ Tai Mũi Họng xem lại, nếu cần đặt ống thông hơi vào màng nhĩ  (“ear tubes”, tympanostomy) để giúp làm thoáng khí tai giữa (ventilation of the middle ear).
Những yếu tố sau đây có thể liên hệ với viêm tai giữa tái hồi:
- Đi nhà trẻ, tiếp xúc với nhiều trẻ con khác
- Ngậm vú da làm bệnh viêm tai giữa nhiều hơn
- Cha hay mẹ hút thuốc lá
Những biện pháp sau đây làm giảm cơ nguy viêm tai giữa:
- Chủng ngừa cúm
- Chích ngừa phế cầu trùng pneumococcus (Prevnar 13) và Hemophilus influenza (ActiHib )
- Cho bú sữa mẹ ít nhất đến 6 tháng tuổi.
- Mấy chục năm trước, người ta cho trẻ uống amoxicillin hay sulfamid trong 9 tháng cho đến 1 năm cho các đứa trẻ bị viêm tai đến 3 lần hoặc hơn trong một năm, để ngăn chận viêm tai giữa tái hồi. Những nghiên cứu thập niên 1990 cho thấy biện pháp này không hiệu nghiệm lắm, và nay nhờ những thuốc chủng ngừa mới như Prevnar 13, người ta ít khi cần tới biện pháp dùng kháng sinh lâu dài như vậy.
Chúc bệnh nhân may mắn.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Bệnh thần kinh thị giác

Những giải thích sau đây chỉ có tính cách thông tin. Đây là một đề tài chuyên môn về khoa mắt rất khó. Tôi chỉ xin cố gắng giải thích từng bước, một số điểm theo yêu cầu của thính giả, để chúng ta cùng học hỏi. Sẽ không có ý kiến về định bệnh hay điều trị cho một trường hợp cá biệt. Xin quý vị kiên nhẫn theo dõi.
Chúng ta cần giải thích một số căn bản về giải phẫu (cơ thể học). Mỗi con mắt chúng ta là một cái phòng tối, như cái phòng tối của máy chụp hình. Ánh sáng từ thế giới bên ngoài vào, đi xuyên qua giác mạc (cornea) và thủy tinh thể (lens), rồi chiếu hình đảo ngược lên trên một cái màn hình, gọi là võng mạc (retina), vai trò giống như phim chụp ảnh trong máy chụp hình. Trong võng mạc có những tế bào đặc biệt biến tín hiệu ánh sáng thành những tín hiệu thần kinh, các tín hiệu này được dẫn truyền qua một dây thần kinh gọi là dây thần kinh thị giác (thị thần kinh, optic nerve, gồm chừng 1,2 triệu sợi thần kinh) đi đến phía sau của bộ óc (visual cortex), là nơi tiếp nhận các tín hiệu này và tạo nên cảm giác “thấy’ của chúng ta.
Trước đây, bệnh nhân bị bóc võng mạc (retinal detachment) bên trái và đã được chữa trị. Những lần đầu tiên đi khám sau khi ông đi giải phẫu thuỷ tinh thể và cảm thấy bị mờ mắt bên trái, có thể bác sĩ mắt ghi nhận việc ông mất thị giác bên mắt đó nhưng lúc khám phía trong nhãn cầu, có lẽ do không thấy gì bất bình thường trong đáy mắt và đầu thần kinh thị giác nên bác sĩ nói với ông là không sao cả. Cho đến cách đây một tháng, đi làm MRI (Magnetic [Resonance Imaging: hình ảnh bằng cộng hưởng từ trường; trong một môi trường có từ trường mạnh, mỗi phần của cơ thể đáp ứng một cách khác nhau và được thể hiện trên hình ảnh.] Định bệnh của bs xem MRI là: NAION (theo như bệnh nhân đọc lại), viết tắt của từ: Nonarteritic Anterior Ischemic Optic Neuropathy.)
NAION có nghĩa: thần kinh thị giác bên trái bị bệnh (neuropathy), tổn thương nằm trong đoạn dài 1mm, nằm phía trước (anterior, đoạn gắn với võng mạc), nguyên nhân do thiếu máu.
Có hai lý do có thể giải thích tại sao không đủ máu để nuôi dưỡng dây thần kinh (ischemia) trong một giai đoạn nào đó:
a)    Không đủ máu được bơm tới dây thần kinh, ví dụ áp suất máu quá thấp (huyết áp thấp - low blood pressure) hay mạch máu bị chèn ép đâu đó.
b)    Động mạch đem máu đến bị hư hại, nên bị nghẽn, ví dụ do động mạch bị viêm (arteritis).
Trong trường hợp này, theo như thính giả đọc từ báo cáo của bác sĩ làm MRI, những động mạch nuôi dưỡng nó không bị bệnh viêm động mạch (“non-arteritic”), khác với trường hợp thiếu máu dinh dưỡng vì các động mạch bị bệnh viêm, bị hư hại gọi là Arteritic Anterior Ischemic Optic Neuropathy hay AAION.
Nguyên nhân:
Chúng ta chưa biết nguyên nhân bệnh này (NAION). Có thể có liên quan đến những yếu tố sau đây nhưng chưa chắc chắn lắm:
●    Người bị chứng cơn ngưng thở trong lúc ngủ (sleep apneas)
●    Người dùng thuốc interferon để trị bệnh ung thư, hay thuốc Sildenafil ("Viagra") để chữa bệnh rối loạn cương cứng (erectile dysfunction, "bất lực")
●    Một số bất bình thường cơ thể học của đầu thần kinh thị giác (optic disc drusen).
Người bệnh NAION tuổi trung bình 57-65 tuổi, mỗi năm trong 100.000 người chừng 2-10 người mắc bệnh này, và NAION là loại viêm thần binh thị giác cấp tính (acute optic neuropathy) thường gặp nhất ở người trên 50 tuổi.
Người bệnh từ từ mất khả năng thị giác (vision loss), thấy càng lúc càng mờ, mất cảm nhận màu sắc cũng là một trong những dấu hiệu đầu tiên; không đau đớn. Thị trường bị thu hẹp lại, trong trường hợp bệnh này, phần thấy được có thể mất một phần trên hay dưới của đường chân trời (altitudinal visual field deficit). Có thể vì vậy mà ông nhìn vào mặt trời (trên cao, phía trên chân trời) thì không thấy gì cả, nhưng nếu nhìn vào ngọn đèn phía dưới thì lại thấy ánh sáng yếu.
Bác sĩ định bệnh bằng cách nhìn vào đáy mắt: đầu thần kinh thị giác một bên bị sưng, ứ máu, với những vết máu chảy chung quanh gai thị giác. Mắt bên kia, trong đầu thần kinh thị giác khoảng lõm (“cup”) nhỏ hơn bình thường (a hyperemic and swollen optic nerve with peripapillary splinter hemorrhages and a fellow eye with a small cup to disc ratio). (Dean Cestari, MD)(1)
Hiện nay chưa có biện pháp chữa hữu hiệu cho bệnh này. Theo BS Cestari, nếu sau hai tháng, bệnh nặng hơn, hay tái lại, cần xem xét lại có đúng bệnh NAION hay là bệnh khác.
Ví dụ, nếu là bệnh viêm dây thần kinh thị do bệnh viêm động mạch (Arteritic Anterior Ischemic Optic Neuropathy, AION), bác sĩ có thể dùng thuốc corticoid để chống viêm. Trong bệnh viêm động mạch tế bào khổng lồ (Giant Cell Arteritis, GCA), động mạch thái dương bị viêm, sưng, đau (temporal arteritis). Mù mắt đột ngột một bên ở người trên 50 tuổi, kèm theo những triệu chứng như nhức đầu, đau da đầu lúc chải tóc, nóng sốt, đau nhức bắp cơ, mệt mỏi, chóng mặt, tê lưỡi...Biến chứng nguy hiểm là có thể làm mù mắt do viêm thần kinh thị giác, nguyên nhân vì động mạch nuôi thần kinh thị giác bị viêm (Arteritic Anterior Ischemic Optic Neuropathy, AAION). Bác sĩ chuyên khoa mắt là người can thiệp khẩn cấp trong trường hợp này, cho dùng corticoid để cứu vãn thị giác bệnh nhân.
Đề nghị với ông đến bác sĩ gia đình khám tổng quát, để xem ông có bệnh gì khác hay không. Mục đích là cần chữa những bệnh liên hệ (tiểu đường, cai hút thuốc lá, GCA) nếu có.
Theo tôi nghĩ ông nên chọn một bác sĩ chuyên khoa mắt (ophthalmologist) chuyên về võng mạc (retina specialist), và để bác sĩ chữa bệnh và theo dõi cho ông kỹ lưỡng hơn. Tránh việc thay đổi bác sĩ nhiều quá, nhất là nếu các bác sĩ không liên lạc với nhau để hoạt động một cách có phối hợp. Ngoài ra, cần được bác sĩ mắt theo dõi định kỳ, và cần khám bs chuyên khoa mắt chữa trị gấp nếu triệu chứng mờ mắt, chớp sang đột ngột xảy ra trên con mắt còn lại.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Chứng sình bụng và tiêu chảy kéo dài

Sau đây tôi chỉ xin bàn qua về một số điểm có tính cách thông tin, để chúng ta cùng học hỏi về một số tin tức khoa học liên hệ đến chứng sình bụng và đi cầu bất thường, tiêu chảy hay bón, ở bệnh nhân khoẻ mạnh về các phương diện khác. Điểm sau này quan trọng, vì sự thay đổi bất thường trong sinh hoạt bộ tiêu hoá, như đột nhiên bón, hay tiêu chảy kéo dài, đau bụng, có thể chỉ là những triệu chứng cơ năng, nhưng cũng có thể là dấu hiệu của một nguyên nhân sâu xa hơn. Ví dụ người trẻ 15-35 tuổi có thể bị bệnh viêm ruột già (ulcerative colitis) làm đau bụng, đi cầu, nhất là có máu, sụt cân, mệt mỏi. Người lớn tuổi hơn có thể có những triệu chứng tương tự do ung thư ruột già (colon cancer). Cũng nên nhắc ở đây là người trên 50 tuổi ở Mỹ cần được bác sĩ phòng ngừa truy tầm ung thư ruột già bằng cách thử phân trong máu, soi ruột già (colonoscopy); nhất là nếu trong gia đình từng có người bị ung thư ruột già.
1)    Về thuốc chống acid (antacid) mà chúng ta hay dùng cho những triệu chứng "khó tiêu" như sình hơi, đau lâm râm, đi cầu không đều đặn, đây cũng là một đề tài khá thú vị, và đang được các nhà nghiên cứu chú ý. Thật ra, "khó tiêu" có rất nhiều lý do mà chúng ta sẽ bàn thêm sau đây, nhưng phần đông không phải do có quá nhiều acid trong bao tử.
2)    Những thuốc ức chế sản xuất acid HCl trong dạ dày như cimetidine (Tagamet), Pepcid, ranitidine (Zantac), pantoprazole (Protonix), omeprazole (Prilosec), lansoprazole (Prevacid), esomeprazole (Nexium) chính thức chỉ có chỉ định dùng trong những trường hợp dạ dày sản xuất nhiều acid quá, trào dịch lên thực quản làm lở thực quản (esophagitis, gastroesophageal reflux disease hay GERD), hay làm lở dạ dày (gastric ulcer), đầu ruột non (duodenal ulcer). Thuốc pantoprazole, omeprazole, lansoprazole, esomeprazole thuộc nhóm ức chế proton (proton pump inhibitor, PPI), làm các tế bào vách (parietal cells) ngưng sản xuất acid HCL, trong một thời gian khá lâu, nên chỉ uống một lần, mỗi ngày. Khác với các thuốc antacid như Maalox, Tums (có chứa calcium bicarbonate) chỉ trung hoà acid sẵn có trong dạ dày, nên cần uống nhiều lần trong ngày, nếu cần kéo dài tác dụng chống acid.
3)    Những thuốc giảm acid trong bao tử, kể cả những thuốc rất mạnh trong việc này như Prilosec hay Protonix tương đối có rất ít phản ứng phụ và đa số ít khi phải ngưng vì bệnh nhân chịu không nổi các phản ứng phụ.Thuốc này thuộc loại bán chạy nhất ở Mỹ cũng như trên thế giới, và năm 2009, thuốc bán đến trên 13 tỷ đô la Mỹ. Chuyện này cũng không ngạc nhiên lắm, vì ở Mỹ chẳng hạn, trên 40% người lớn bị bệnh tràn dịch thực quản (GERD), phần lớn do chúng ta ăn uống quá nhiều, ít vận động và quá nặng ký hay quá mập. Cũng nên nhớ rằng ăn nhiều, nhất là món ngon miệng nhiều gia vị, nhiều thịt, rượu đều làm tăng acid trong dạ dày, càng dễ làm đau bụng do dị ứng với thức ăn (ví dụ dị ứng với sữa, đồ biển), đầy hơi, bón (vd chocolate, cacao; chúng ta thường gọi là "nóng"), trĩ.
4)    Tuy nhiên, giảm acid trong dạ dày trong thời gian lâu dài có thể ảnh hưởng đến nhiều yếu tố quan trọng cho sinh hoạt của bộ tiêu hoá: một số chất trong thực phẩm như vitamin B12, sắt, calcium, magnesium tùy thuộc vào lượng acid trong dạ dày để được tiêu hoá và hấp thụ; giảm acid có thể làm bệnh nhân thiếu sắt, thiếu calcium, magnesium, vitamin B12.(1) Giảm acid cũng làm giảm tác dụng sát khuẩn của dịch acid; đặc biệt có những khảo cứu cho thấy vi khuẩn như Helicobacter pylori (gây loét bao tử, đầu ruột non) hay một số vi khuẩn gây viêm phổi có thể xảy ra nhiều hơn ở người dùng thuốc chống acid lâu dài. Ngoài ra, ức chế acid thành hình trong dạ dày sẽ dẫn đến hiện tượng acid tăng lên sau khi ngưng thuốc, do đó lại phải uống thuốc antacid (rebound).
5)    Khí (hơi) sản xuất trong ruột bình thường chừng 150ml-300ml, gồm khí hydrogen, CO2, methane (có thể đốt cháy). Ăn uống quá nhanh, vừa ăn vừa nói chuyện, uống nước có gas (soda) cũng làm tăng lượng khí trong ruột. Những khí có mùi phần lớn do chất chứa sulfur. Những thức ăn như đậu (beans, lentil, legumes), hột mít có thể làm sình bụng trung tiện nhiều vì các chất tinh bột phức tạp (complex carbohydrates) không được tiêu hoá hoàn toàn, bị vi khuẩn làm lên men và sản xuất khí.
Một số thuốc có chứa simethicone (Phazyme, Flatulex, Mylicon, Gas-X, Gas X Extra Strength, Mylanta Gas, Gas-X Ultra Strength) với mục đích làm giảm sình bụng. Simethicone là cho khí không sủi bọt (antifoaming agent), gom lại thành những túi khí lớn hơn, dễ ợ ra ngoài hoặc trung tiện dễ dàng hơn; không làm giảm thành hình khí trong ruột. Thuốc không hấp thụ vào máu và an toàn. Trái lại, một số thuốc có chất men giúp cho tiêu hoá các tinh bột dễ hơn, giảm khí trong ruột, như alpha-galactosidase, trong viên "Beano". Beano giúp tiêu hoá chất đường phức tạp trong các đậu, broccoli, bắp cải, cho nên những chất đường này không vào ruột già, nơi mà các vi khuẩn sẽ làm chúng lên men và sinh ra khí, gây sình bụng, trung tiện.
6)    Một số thuốc uống để trung hoà acid trong dạ dày có thể làm sình hơi, đau bụng nhiều hơn. Antacid làm vi khuẩn (bình thường) trong ruột sinh sản nhiều hơn, làm cho các thức ăn không được tiêu hoá bị lên men nhiều hơn, sinh ra khí làm sình bụng, đau bụng, tức bụng.
7)    Hiện nay, y học đang chú ý đến một hiện tượng gọi là SIBO (small intestine bacterial overgrowth) trong đó các chất chống acid PPI được dùng quá nhiều làm cho các vi khuẩn (bình thường trong ruột non không gây bệnh, nếu giữ mức vừa phải) lại được điều kiện thuận lợi sinh sản quá nhiều trong ruột non, gây ra những triệu chứng đa dạng như đau bụng, sình hơi, bài tiết thất thường, khi bón, khi tiêu chảy, đôi khi khó phân biệt với một bệnh thường xảy ra ở phụ nữ trẻ gọi là "hội chứng ruột khó chịu" (IBS, irritable bowel syndrome); SIBO được chữa hiệu nghiệm trong một số trường hợp. Một thuốc gọi là probiotics, gồm những vi khuẩn "bạn" (vd Lactobacillus casei) giúp tái lập quân bình trong ruột, lấn áp các vi khuẩn "xấu". Probiotic Yogurt có thể dùng trong mục đích tương tự. Kháng sinh (vd tetracycline, amoxicillin-clavulanate) có thể được bác sĩ dùng để đàn áp các vi khuẩn xấu này, nhất là một một loại kháng sinh khá đắt tiền (rifaximin), mục đích kềm chế số lượng vi khuẩn trong ruột.
8)    Pepto Bismol là thuốc chứa chất bismuth subsalicylate.Thuốc chữa các triệu chứng khó tiêu, do ăn uống nhiều quá. Thuốc giảm tiêu chảy. Cơ chế không rõ ràng, nhưng người ta nghĩ rằng thuốc làm giảm chất tiết tiêu hoá, giảm viêm, ức chế bớt các vi khuẩn trong đường tiêu hoá. Vì thuốc có aspirin, nếu dị ứng với aspirin hay các thuốc giảm viêm (NSAIDS), có những bệnh liên hệ đến vấn đề đông máu, cần tránh hay hỏi bác sĩ của mình. Ở Mỹ, từ năm 2004, thuốc Kaopectate cũng chứa bismuth subsalicylate (khác với ở Canada, thuốc cùng tên lại chứa attapulgite). Đừng lẫn lộn Pepto Bismol với Pepto Children, là một thuốc chứa calcium carbonate, trung hoà acid. Pepto Bismol dùng cho trẻ em dưới 12 tuổi cần hỏi ý kiến bác sĩ; tránh dùng khi bị thủy đậu (chicken pox) và lúc bị bệnh cảm cúm vì sự hiện diện của chất giống aspirin, và suy gan; ở trẻ em có thể gây Reye syndrome, làm ói mửa và suy gan.
Tóm lại, những biện pháp đơn giản có thể có ích, làm giảm rối loạn tiêu hoá:
•    Nhai kỹ, ăn chậm. Giữ gìn sức khoẻ răng.
•    Ăn uống vừa đủ. Tránh ăn nhiều dầu mỡ, chiên xào.
•    Tránh quá nhiều gia vị, alcohol, thuốc lá,
•    Vận động cơ thể vừa phải, tránh đi nằm sau khi ăn.
•    Đừng lạm dụng các thuốc chống acid, nhất là trong những bệnh không phải do quá nhiều acid dạ dày gây ra. Chọn những thuốc không làm “hơi “ sinh ra trong ruột nhiều hơn.
•    Tránh thức ăn có sản phẩm gốc sữa (dairy products) nếu không chịu được các loại này (bánh kem, sữa bò, cà phê sữa).
•    Có thể thử Pepto Bismol, Beano, Simethicone nếu bác sĩ đồng ý.
Nên nhớ, các triệu chứng đường ruột rất khó diễn giải, nhất là ở người già. Cần bác sĩ theo dõi cẩn thận. Nếu thắc mắc, nên đề nghị bác sĩ dành thì giờ cho các câu hỏi của mình, không nên vì lo sợ biến chứng mà không dùng thuốc do bác sĩ kê toa.
Chúc bệnh nhân may mắn.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Saturday, June 13, 2015

Bệnh mồ hôi quá nhiều

Thường chúng ta chảy mồ hôi toàn thân nhiều lúc chúng ta đến một chỗ nóng nực, vì bộ óc chúng ta có khả năng phát hiện được sự thay đổi nhiệt độ của máu cơ thể đi vào đầu, bộ óc ra lệnh cho những tuyến mồ hôi làm việc nhiều hơn. Trái lại, mồ hôi bàn tay và lòng bàn chân chịu ảnh hưởng trực tiếp của vỏ não (cerebral cortex) là những tổ chức thần kinh cấp cao và là nơi điều khiển những cảm xúc, suy nghĩ. Do đó chúng ta chảy mồ hôi tay chân thường vì chúng ta xúc động, sợ sệt hoặc lo âu (emotional stimuli).

Chứng chảy mồ hôi tay chân quá nhiều (hyperhidrosis) ở một người khỏe mạnh về mọi mặt khác thường được giải thích như là một sự thiếu điều hòa của hệ thần kinh giao cảm (autonomic dysregulation). Nói một cách đơn giản hơn, những người này là những người dễ bị xúc động, hệ thần kinh giao cảm (sympathetic system) quá nhạy cảm, kích thích các hạch mồ hôi tay, chân, nách quá trớn. Người Nhật bị chứng này 20 lần nhiều hơn các giống dân khác. Người Mỹ (phần đông là da trắng) chừng 1% mắc chứng này.
Chữa trị chỉ có mục đích làm tăng chất lượng đời sống vì bệnh này không có gì nguy hiểm.
1)    Thường nhất là dùng những muối aluminum (nhôm).
•    Ở Mỹ, thuốc tên Drysol chứa 20 % aluminum chloride, bán từng chai 37. 5 cc, và ở Mỹ mua phải có toa bác sĩ. Tối đi ngủ người bệnh thoa Drysol lên chỗ mồ hôi nhiều, lấy saran wrap (là màng plastic) bọc lên, sáng dậy rửa thuốc đi. Làm hai đêm liên tiếp. Sau đó, mỗi tuần một hai lần nếu cần.
•    Thuốc Certin-Dri và Xerac không cần toa bác sĩ. Nên hỏi dược sĩ có thuốc tương tự hay không, thường đây là những chất rẻ tiền dễ kiếm.
2)    Các thuốc uống xài trị bệnh ra mồ hôi nhiều không hiệu quả lắm vì nhiều phản ứng phụ. Những thuốc này cũng như những biện pháp sau đây không xài cho trẻ em, và chỉ kể ra đây với mục đích thông tin.
3)    Anticholinergics:
a)    Những thuốc này có tác dụng chống lại acetylcholine (là chất truyền dẫn [neurotransmitter] kết nối các sợi thần kinh giao cảm với tuyến mồ hôi), nên cũng gây phản ứng phụ như khô mắt, khô miệng, mắt mờ do con ngươi nở lớn, khó tiểu, bón.
Vd: propantheline bromide, glycopyrrolate, oxybutynin (Ditropan), benztropine).
b)    Một cách chữa khác là iontophoresis, dùng dòng điện để đem thuốc vào da.
c)    Trong một số trường hợp bác sĩ có thể xài thuốc an thần (tranquilizer).
4)    Một phương pháp mới, khá đắt tiền là chích Botulinum toxin A (Botox). Botox là một chất cực độc lấy từ vi trùng botulinum. Hiện nay rất thịnh hành trong việc trị các vết nhăn da mặt. Độc tố này làm tê liệt các tuyến mồ hôi. Bệnh nhân được bác sĩ chuyên khoa da chích chừng 50 mũi chất này vào mỗi bàn tay. Hiệu nghiệm từ 4-12 tháng, sau đó phải làm lại.
5)    Phương pháp giải phẫu: cắt đứt hay hay kẹp dây thần kinh giao cảm nằm trong lồng ngực, trước khi dây này ra khỏi lồng ngực và phụ trách vùng mồ hôi ở nách và tay (cắt thần kinh giao cảm bằng nội soi lồng ngực/ ETS endoscopic transthoracic sympathectomy). Phẫu thuật này do BS giải phẫu thần kinh (neurosurgeon) thực hiện.
a)    Biến chứng (complications) chính của thủ thuật này là pneumothorax (không khí vào trong màng phổi)(chừng 5%).
b)    Các phản ứng phụ (side effects):
•    tay chân quá khô.
•    bệnh trở lại sau một thời gian (recurrence)
•    mồ hôi quá nhiều xảy ra ở những vùng khác (Compensatory sweating [CS]= "chảy mồ hôi bù trừ"), có khi rất bất tiện: mông, lưng, toàn thân, trong 55% trường hợp theo một tổng quan 406 vụ giải phẫu ở châu Âu (Rodriguez PM) [1]. Đàn bà dễ bị phản ứng phụ này nhiều hơn. Kết quả tốt hơn cho trường hợp mồ hôi bàn tay, vùng nách tỷ số thành công thấp hơn.
•    tim đập quá chậm bradycardia), tổn thương các dây thần kinh khác: ít xảy ra.
Nói chung hầu hết các bệnh nhân bằng lòng với kết quả trong năm đầu. Sau đó, tỷ số 'bằng lòng" giảm đáng kể, lý do chính là "chảy mồ hôi bù trừ".(Dumont P) [2]

Bệnh nhiều mồ hôi chỉ bất tiện, cần tĩnh tâm, bớt lo lắng, lo âu, thư giãn. Thường người chảy mồ hôi tay nhiều có khuynh hướng bị ám ảnh tay mình ẩm ướt lúc giao tiếp, trước lúc sắp phải bắt tay người khác, cầm tay người khác. Sự căng thẳng này lại càng làm cho người đó hồi hộp, tim đập mạnh, tay ướt nhiều hơn (do hệ thần kinh giao cảm tự động bị kích thích bởi tác dụng của stress). Người đó có thể vô tình tránh tiếp xúc với người khác và giới hạn sinh hoạt của mình, ít muốn tiếp xúc với ai. Khá đông người Việt Nam chúng ta cũng nghĩ rằng mồ hôi tay là triệu chứng yếu tim (cũng dễ hiểu vì do tác dụng hệ gia cảm nói trên, tim cũng đập nhanh, người đó hồi hộp, cảm thấy khó thở) nhưng điều này không đúng. Có thể đọc sách hướng dẫn, tập thiền, hoặc nhờ những người có khả năng giúp cho mình tự tin hơn, như chuyên gia tâm lý, hoặc bs của mình. Đa số người trẻ mắc chứng này dần dần sẽ bớt trở ngại, triệu chứng giảm đi với thời gian, nhất là nếu người đó tự tin hơn và làm chủ được mình hơn bằng cách ý thức về sự sợ sệt của mình. Có thể dùng muối nhôm (aluminum salt) nếu cần. Nên nhờ bác sĩ khám để đánh giá sức khỏe tổng quát, để loại những bệnh tim, giáp trạng đôi khi có thể đi cùng.
Cắt nội soi thần kinh giao cảm là một phẫu thuật lớn, không đảo ngược được, và có thể gây biến chứng đáng kể, có khi quan trọng. Tác dụng phụ là compensatory sweating (chảy mồ hôi bù trừ), xảy ra khá lâu sau khi mổ, có thể làm thất vọng bệnh nhân sau giai đoạn thoả mãn lúc đầu.
Đa số bác sĩ khuyên nên dùng thử các phương pháp bảo thủ, chỉ dùng phẫu thuật khi thất bại với các biện pháp khác. Nên tham khảo với bs chuyên bệnh ngoài da. Nên điều tra kỹ về khả năng, kinh nghiệm của bs sẽ giải phẫu, cũng như về phương tiện nơi thực hiện giải phẫu, để đối phó nếu gặp biến chứng bất ngờ, nguy hiểm.
Chúc bệnh nhân may mắn.
References:
1)    Eur J Cardiothorac Surg. 2008 Sep;34(3):514-9. doi: 10.1016/j.ejcts.2008.05.036. Epub 2008 jul2
2)    Ann Thorac Surg. 2004 Nov;78(5):1801-7.
BS Hồ Văn Hiền

Chứng nhổ nước bọt ra máu

Máu trong nước bọt có thể từ:
1)    Các bộ phận trong miệng: thường gặp nhất là nướu răng chảy máu do viêm, nhiễm trùng nướu răng, hay một u bướu của nướu răng. Người Việt chúng ta không giữ gìn răng kỹ lắm, ví dụ không đi nha sĩ cạo vôi răng, không floss răng, không chải răng đúng cách, hay hút thuốc lá và uống rượu, là những điều gây tổn thương cho nướu răng, dễ bị những bệnh chung quanh răng (bệnh chu nha, periodontal disease).
2)    Người thiếu vitamin C (scurvy) có thể sưng nướu răng và chảy máu, cũng như dễ chảy máu những nơi khác. Khác với đa số các sinh vật khác, chúng ta không tổng hợp vitamin C được. Vitamin C lại cần thiết cho chất collagen trong mô liên kết xương và mạch máu. Do mạch máu bị yếu đi, người thiếu vitamin C dễ chảy máu, nhất là trong niêm mạc miệng.
3)    Chảy máu nướu răng (cũng như chảy các nơi khác như mũi, da, khớp xương) cũng có thể do máu không đông bình thường. Điều này có thể do nhiều nguyên nhân, vd như máu không đông bình thường do di truyền, do ung thư phá huỷ các tiểu bản (platelet, tế bào nhỏ trong máu kết tụ khi cần hàn gắn các vết thương, làm ngưng chảy máu).
4)    Máu từ trên mũi chảy xuống ("chảy máu cam"): do bệnh nhân móc mũi, cạy mũi; do viêm mũi dị ứng, các mạch máu nhỏ trong Kiesselbach's plexus dễ bị vỡ làm chảy máu; u bướu, hay do những nguyên nhân làm máu khó đông kể trên.
5)    Máu chảy từ hệ tiêu hoá: thực quản (esophagus), dạ dày bị loét, ói máu (hematemesis). Một số loét do vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori); được chữa trị bằng kháng sinh như clarithromycin kèm với PPI và một số thuốc khác. Máu chảy từ dạ dày nếu đáng kể có thể gây ra ói máu, kèm theo những triệu chứng như phân đen (melena), thiếu máu (giảm lượng hồng cầu; anemia). Theo như tôi biết ít khi thấy máu trong nước miếng vì loét dạ dày hay đầu ruột non ( đầu tá tràng, duodenal bulb ulcer).
6)    Máu từ phổi lên miệng lúc ho (hemoptysis, coughing blood). Nguyên nhân có thể là nhiễm trùng phổi. Như trong bệnh lao (tuberculosis), bệnh nhân có thể không có triệu chứng rõ rệt lắm khi phát hiện ho ra máu. Các bệnh viêm phổi khác có thể kèm theo triệu chứng cấp tính hơn như sốt nóng cao, đau lồng ngực như trường hợp viêm phổi do phế cầu trùng (pneumococcus). Ung thư phổi cũng có thể làm chảy máu. Người hút thuốc lá, hay sống trong môi trường ô nhiễm dễ bị ung thư phổi hơn người không hút.
Nói tóm lại, nếu nhổ nước miếng có máu kéo dài thì nên tìm nguồn xuất phát của máu.
1)    Bác sĩ gia đình cần biết bệnh sử, khám tổng quát toàn bộ cơ thể.
2)    Cụ thể nên khám kỹ mũi và họng.
3)    Cần đi nha sĩ khám răng và nướu răng nếu nướu sưng và có khả năng chảy máu từ đó.
4)    Nếu nghi bệnh ở dạ dày hay ruột có thể cần thử nghiệm tìm H. pylori, chẩn đoán hình ảnh hay nội soi thực quản và dạ dày. Xét nghiệm xem có máu trong phân hay không (occult blood).
5)    Bệnh lao (tuberculosis) phổ biến ở VN và cần định bệnh chính xác; có thể cần thử lao tố (tuberculin skin test); chụp X quang phổi, hoặc có khi CT scan phổi nếu cần chi tiết hơn.
6)    Có thể phải thử máu (đếm hồng cầu, công thức máu, PT, PTT, etc) xem có yếu tố gì làm máu không đông bình thường hay không: như ung thư máu, giảm tiểu cầu, các yếu tố đông máu.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Hội chứng giải phẫu lưng thất bại

Cơ chế của việc đau chân do chèn ép dây thần kinh phát xuất từ tủy sống (nerve roots), phần chính là do đĩa đệm bị thoái hoá (intervertebral disc degeneration), thoát vị (herniation) ra khỏi vị trí bình thường của mình (nằm giữa các đốt xương sống), hoặc phình (bulging) ra làm nghẽn ống tủy xương sống, và làm các rễ thần kinh bị khó chịu (irritation), hoặc đè, ép (compression) lên các dây thần kinh này làm cho chúng ta có cảm giác đau từ mông chạy xuống cẳng chân, bàn chân.
Quá trình hồi phục các bệnh đau dây thần kinh do chèn ép ở cột sống là quá trình lâu dài, 1/2 năm, 1 năm trở lên. Dù không giải phẫu, đa số (chừng 2 phần 3) thoát vị đĩa đệm [disc herniation] sẽ thuyên giảm hoặc lành hẳn.
Chữa trị:
Biện pháp bảo thủ cho các trường hợp đơn giản:
1.    đắp nước đá 2-3 ngày lên những vùng đau (lạnh làm giảm sưng/viêm)
2.    nếu cần uống thuốc giảm đau như Acetaminophen (paracetamol, "Tylenol"), giảm viêm nhóm NSAID (Non Steroid Anti Inflammatory Drugs) như Ibuprofen (vd Advil, Motrin), naprosyn (Aleve); coi chừng xót ruột, nên uống sau khi ăn; những người loét bao tử, từng chảy máu bao tử, áp huyết cao (hypertension), bệnh gan, dễ chảy máu (bleeding disorder) nên tránh loại NSAID này.
3.    không nên nằm một chỗ quá lâu.
Để tránh tái phát, rất quan trọng:
•    Tránh khiêng, nâng, vật nặng, xoay qua lại (twisting) cột xương sống, ít lắm là trong 6 tuần đầu.
•    Không bao giờ khom lưng xuống mà nâng một vật nặng lên, nghĩa là không dùng lưng để nâng đồ vật lên. Nếu thật cần, chỉ nên ngồi chồm hỗm, và đưa tay ra, đứng lên, nghĩa là dùng hai chân để nâng đồ vật lên.
•    Sáng sớm thức dậy, đừng nhảy ra khỏi giường, từ từ đưa chân xuống, chống hai tay và đứng dậy.
•    Nếu càng ngày càng đau thêm, hoặc nếu trường hợp phức tạp như chấn thương mạnh, đau kéo dài vài tuần, triệu chứng đường tiểu (tiểu ra máu, són tiểu), đau lúc nằm xuống, có thể bác sĩ sẽ cần đến những biện pháp khác như chích thuốc kháng viêm corticoid vào khoảng bao quanh màng cứng tuỷ sống (epidural injection), hoặc giải phẫu.
Bác sĩ chữa và theo dõi tiến trình của bệnh đến một lúc nào đó sẽ thấy cần ý kiến của bác sĩ chuyên về phẫu thuật, các biện pháp thuốc men, chờ đợi, bảo thủ cũng có giới hạn của chúng.
Thông thường, bác sĩ giải phẫu có thể :
1.    Ap dụng phẫu thuật "mở" (open discectomy), mổ theo lối cổ điển. Thường bác sĩ cần phải cắt một hay 2 lamina của đốt sống. Lamina là hai phần hình cung nối liền gai (spine) của đốt sống phía sau với phần trước của đốt xương sống, che chở mặt sau của tủy sống. Cắt lamina (laminectomy) làm giảm sức ép trên tủy sống, và mở rộng đường kính của ống tủy sống. Nếu xương bị lấy ra nhiều quá làm đoạn xương sống liên hệ bất ổn, có thể cần làm cho các đốt xương sống dính chặt với nhau (spinal fusion). Tuy nhiên, fusion một đoạn xương này có thể chuyển sức ép (stress) lên trên những đốt xương kế cận và gây đau ở những đốt xương đó.
2.    Hoặc thủ thuật gọi là “vi giải phẫu cắt đĩa” (microdiscectomy). BS rạch đường nhỏ sau lưng, đẩy rễ thần kinh qua một bên, cắt phần đĩa đệm phình ra ngoài (giống như ruột bánh xe lòi ra lổ hở trong vỏ xe). Bệnh nhân có thể về nhà cùng ngày.
3.    Dùng tia laser cắt đĩa bằng nội soi xuyên qua da (endoscopic transcutaneous laser discectomy).
Dùng phương pháp nào tùy theo khả năng của bác sĩ, trang thiết bị nhà thương và tình trạng người bệnh.
Bệnh nhân có hết đau hay không tùy theo tình trạng rễ thần kinh bị viêm và chèn ép hư hại nhiều hay ít, và có phục hồi hoàn toàn hay không. Nói chung, nếu đau từ mông xuống đùi, chủ yếu do rễ thần kinh bị chèn ép (radicular pain), thì kết quả tốt hơn. Nếu đau nhiều trên lưng (back pain), nguyên nhân có thể phức tạp hơn, giải toả chèn ép rễ dây thần kinh có thể giải quyết một nguyên nhân gây đau, nhưng không phải tất cả. Có thể gặp khó khăn trong việc xác định đĩa sống nào là nguồn gốc của chứng đau lưng, và có khi sửa chữa chỗ này nhưng nguyên nhân chỗ khác, do đó sau khi mổ vẫn đau.
Theo một nghiên cứu ở Nhật (Yorimitsu), sau 10 năm, 75% bệnh nhân được giải phẫu cắt đĩa lưng áp dụng phẫu thuật "mở" (standard lumbar discectomy), vẫn còn đau lưng ít nhiều (residual back pain), chừng 12% còn đau lưng nhiều. Đối với chứng đau lưng, tập luyện (exercise) có thể hiệu nghiệm hơn. Có một hiện tượng người ta gọi là "hội chứng giải phẫu lưng thất bại" (“failed back surgery syndrome”, FBSS) để mô tả những trường hợp phải giải phẫu lại (revision) vì còn đau lưng. Tác giả Fritsch và Heisel nghiên cứu 182 trường hợp giải phẫu sống lưng phải mổ lại trong 25 năm (1965-1990; Germany). Trong một nghiên cứu trước đó, trong 1.500 trường hợp cắt đĩa đệm, 10.8% phải mổ lại (nói chung 5-33%) tùy theo phương pháp phẫu thuật. Trong số các bệnh nhân mổ lại (revision), 34% phải mổ nhiều lần. Nói chung lý do phải mổ lại là bệnh nhân đau trở lại, hay không bớt đau, hay cơ năng dây thần kinh bị ảnh hưởng (neurological deficit) hay cột sống bất ổn (lumbar instability) sau khi mổ lần đầu. Lần đầu tiên làm revision, phần lớn là do bệnh đĩa thoát vị tái hồi (recurrent hernia). Những lần mổ sau là do bao tủy sống hoá xơ (epidural fibrosis) hay do cột sống lưng bất ổn định (cần phải gỡ bỏ các chỗ mô xơ kết dính [fibrinolysis], hay kết nối các đốt sống lại dính với nhau [spine fusion]). Trong ngắn hạn, 80% bệnh nhân vừa ý (satisfied) với kết quả giải phẫu xét lại. Về lâu dài (2-17 năm ) chỉ còn 22% vừa lòng với kết quả.
Tóm lại, bệnh nhân cùng với bác sĩ của mình cần quyết định phương pháp can thiệp thích hợp nhất cho mỗi trường hợp. Kinh nghiệm ở Đức cho thấy chừng 10 người giải phẫu đau lưng thì có một người phải mổ lại, có khi nhiều lần; và trong số cần mổ lại, về lâu dài đa số không hoàn toàn vừa ý với kết quả.
Cuộc nói chuyện này hoàn toàn chỉ mục đích thông tin, bệnh nhân cần tham khảo với bác sĩ của mình.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền