Tuesday, July 24, 2018

Tiền liệt phì đại (BPH) và bịnh Parkinson

Tuyến tiền liệt (prostate) nằm bao quanh niệu đạo (urethra), lúc nước tiểu từ bàng quang (bladder) thoát ra ngoài qua ngã niệu đạo. Tuyến tiền liệt bình thường thể tích chừng 15-30ml, cỡ bằng trái banh chơi golf. Ở người 50 tuổi trở lên, thể tích trung bình tăng lên từ 24ml lúc 50 tuổi cho đến 38 ml lúc 80 tuổi và PSA từ 1,1 lên đến 2,5 ng/ml và không ảnh hưởng nhiều đến các triệu chứng tiểu tiện (Berges, Germany). Tuy nhiên, nếu tuyến tiền liệt quá lớn và đè lên đoạn cổ bàng quang mở ra niệu đạo (urethra, là đường thoát nước tiểu từ bọng đái ra ngoài dương vật), bịnh nhân có thể thấy tiểu chậm, tiểu khó, tiểu són hay tiểu nhiều lần (đái láu). Rất hiếm khi bịnh tuyến tiền liệt phì đại lành tính (BPH, benign prostatic hypertrophy) đe dọa đời sống bịnh nhân. Điều quan trọng nhất là bs đánh giá tầm mức của các triệu chứng và chúng ảnh hưởng thế nào đến phẩm chất cuộc sống người bệnh, để quyết định có cần chữa trị hay không, và chữa trị bằng phương pháp nào.
Những thuốc tây y để trị các triệu chứng của bịnh tuyến tiền liệt phì đại có tác dụng như sau:
1) Alpha blockers (alpha 1a adrenergic receptor): không làm tuyến teo lại mà làm giãn nở các cơ chung quanh tiền liệt và chung quanh cổ của bàng quang, làm nước chảy thông hơn.
Thuốc thường dùng: tamsulosin (Flomax)

2) 5 alpha reductase inhibitors: ức chế men 5 alpha reductase; men này giúp biến hormone nam giới testosterone thành dihydrotestosterone (DHT) là một chất làm tuyến tiền liệt to ra (tăng trưởng). Do đó các thuốc loại này làm cho thể tích của tuyến tiền liệt giảm đi, tuy nhiên có thể cần đợi đến 6 tháng tuyến tiền liệt mới nhỏ lại.
Ví dụ: finasteride (Proscar), dutasteride (Avodart). Dutasteride làm giảm PSA xuống một nửa sau một năm, và thể tích tuyến tiền liệt giảm 25% sau 2 năm, giảm triệu chứng khó tiểu và giảm khả năng ung thư tuyến tiền liệt.
Bịnh Parkinson là một bịnh do thoái hoá của hệ thần kinh (neurodegenerative disease) ảnh hưởng đến các cử động và tình trạng tâm trí của người bịnh, do một bộ phận trong não bộ tên "substancia nigra" (chất đen) bị hư hại, làm mức truyền dẫn thần kinh dopamine bị thiếu hụt. Substancia nigra sản xuất dopamine có tác dụng khuyến khích khuyến khích vỏ não vận động (motor cortex, vùng trán) trong việc khởi động các cử động . Thiếu dopamine từ "chất đen" làm cho các cử động chậm chạp và yếu ớt. Nguyên nhân bịnh Parkinson chưa hiểu rõ. Người trẻ có thể bị bịnh này nhưng hiếm, ở người trên 60 tuổi 1/100 mắc bịnh Parkinson. Tuổi 60-69, chừng 1000 người thì có 5 người bịnh, 70-79 tuổi 10/1000, trên 80 tuổi 20/1000.

Trước khi bịnh Parkinson được bác sĩ chính thức định bịnh, có thể có những triệu chứng báo trước mà bác sĩ cũng như bịnh nhân không nhận ra, trong đó có chứng chóng mặt, cảm thấy mình lâng lâng đi đứng không vững hay sự vật xoay chung quanh mình. Những triệu chứng này được gọi chung là "không -vận động" (non-motor) vì liên quan đến hệ thần kinh tự dưỡng (autonomic nervous system/ tự động, vô ý thức)

Lý thuyết về sự tiến triển của PD: Giả thuyết của Braak (Theo Parkinson Foundation )
Hiện nay (một phần của cái gọi là giả thuyết của Braak) là những dấu hiệu sớm nhất của Parkinson được tìm thấy trong hệ thần kinh ruột, hành tủy (medulla) và hành khứu giác (olfactory bulb), bộ phận này kiểm soát khứu giác (khả năng ngửi). Theo lý thuyết này, bịnh Parkinson chỉ tiến triển đến substancia nigra và vỏ não theo thời gian.
Lý thuyết này ngày càng được hỗ trợ bởi bằng chứng cho thấy các triệu chứng không thuộc về vận động (non-motor symptoms), chẳng hạn như mất khứu giác, rối loạn giấc ngủ và táo bón có thể đi trước các tính năng vận động của bệnh trong vài năm. Do đó, các nhà nghiên cứu đang ngày càng tập trung vào những triệu chứng không-vận- động này để phát hiện PD càng sớm càng tốt và tìm cách ngăn chặn sự tiến triển của bịnh này.
Những triệu chứng sớm khác là:
1) Giọng nói thay đổi, yếu đi hoặc khàn đi mà không phải do bịnh cảm nhất thời; nhiều người tưởng bịnh nhân điếc vì không nghe câu trả lời quá yếu ớt.
2) Nét mặt trở nên nghiêm nghị, khó chịu, mắt nhìn không thấy chớp; tiếng Anh gọi là "mang mặt nạ" (masking).
3) Dáng khòm xuống, co rút lại.
4) Một ngón tay rung, cằm rung, chân rung (tremor)
5) Mất khả năng ngửi mùi trái chuối, cam thảo, không chỉ tạm thời (ví dụ bị cảm nghẹt mũi) mà kéo dài.
6) Đi đứng khó khăn, cứng nhắc (rigidity).
7) Chữ viết đột ngột trở nên nhỏ hơn, dính vào nhau, khó đọc (micrographia).
8) Ngủ nằm không yên, tay đấm chân đá, dễ té xuống giường.
9) Bón, phải rặn thường xuyên mới đi cầu được, mặc dù ăn thức ăn có sợi , trái cây, uống nước đầy đủ.

Bịnh Parkinson càng tiến triển thì triệu chứng đường tiểu phía dưới càng nhiều, ở nam giới cũng như nữ giới. Phần lớn là triệu chứng loại "khó chịu, kích thích"(irritative) hơn là do làm tắc nghẽn (obstructive symptoms), như trong trường hợp tuyến tiền liệt phì đại là tắc nghẽn lối thoát nước tiểu từ bàng quang. Theo như tôi biết, giữa BPH và Parkinson không có liên hệ trực tiếp với nhau. Tuy nhiên, như chúng ta thấy, hai bịnh gây ra một số triệu chứng đường tiểu phía dưới (Lower urinary tract symptoms, LUTS) như tiểu láu, tiểu không hết, tiểu khó, tiểu ngập ngừng, khó phân biệt nguyên nhân thuộc về bên nào hay cả hai bên. Bịnh tuyến tiền liệt phì đại ảnh hưởng đến sự kiểm soát thần kinh tự dưỡng nội tạng (visceral motor system) của hệ thống cơ trơn tuyến tiền liệt+bàng quang (cơ vòng niệu đạo phía trong [internal urethral sphincter] cổ bàng quang mở đi tiểu, đóng nín tiểu) trong lúc bịnh Parkinson hay MSA cũng tác dụng trên sự kiểm soát này.
Một bịnh hiếm hơn bịnh Parkinson gọi là bịnh Multiple System Atrophy (MSA, Teo Đa Hệ, hay Shy-Drager Syndrome). MSA cũng là một bịnh thoái hoá hệ thần kinh nhưng ngoài những rối loạn cử động (movement disorder), lại có thêm những rối loạn của hệ thần kinh tự dưỡng (hệ thống tự dưỡng kiểm soát một cách tự động áp huyết, tiêu hoá, nhịp tim, nhịp thở, tiêu, tiểu, sex). ở người 60-70 tuổi trở lên, nguyên nhân chưa hiểu rõ, nhưng có thể do di truyền, trong não bộ có những vùng bị teo ở nhiều nơi.
MSA chia ra làm 2 nhóm:
a) nhóm giống Parkinson (Parkinsonian type) với triệu chứng các cơ cứng (muscle rigidity), cử động chậm (bradykinesia) và mất thăng bằng;
b) nhóm với những triệu chứng tiểu não (cerebellar type) như vận động thiếu phối hợp, đi không vững, phát âm đớt (dysarthria), nói nhỏ, mắt mờ, nuốt khó.
1) Cho nên bịnh nhân MSA còn có nhiều các triệu chứng như chóng mặt, xỉu vì huyết áp thấp, tim loạn nhịp, bất lực (rối loạn cương cứng, erectile dysfunction) và vấn đề kiểm soát tiểu tiện, như không nín (cầm) tiểu được, tiểu khó khăn, không tiểu hết được. Bịnh MSA và Parkinson khó phân biệt. Các bác sĩ niệu khoa có thể ngần ngại giải phẫu cắt tuyến tiền liệt xuyên qua niệu đạo (transurethral resection of the prostate ) ở người bị bịnh Parkinson vì dễ có biến chứng tiểu són sau khi mổ hơn là ở người không bị Parkinson. Có thể vì trong số bịnh nhân được cho là bịnh Parkinson, một số người thật sự là bịnh MSA.
2) Hiện nay người ta chưa hiểu rõ tại sao người bịnh Parkinson thấy các cơ yếu sức trong lúc cơ chế chính nằm trong hệ thần kinh trung ương. Theo American Parkinson Disease Association, “bệnh nhân Parkinson thường cảm thấy yếu ớt. Họ thường mô tả cảm giác chân họ nặng như chì hay bê tông. Cảm giác yếu ớt này khắp cơ thể , cả trong cánh tay, bàn tay. Trong thực tế, khi đo sức mạnh của bệnh nhân Parkinson thì sức mạnh của họ trong mức bình thường nhưng họ mệt mỏi dễ dàng hơn khi lập đi lập lại động tác nào đó. Nghĩa là, lúc phải cơn co cơ nhiều liên tiếp (repeated contractions), chúng sẽ mất lực nhanh hơn, vì vậy bệnh nhân Parkinson sẽ gặp khó khăn nếu phải thực hiện các động tác lặp đi lặp lại.”
Chính BS James Parkinson (1755-1824), nhà bác học người Anh đa tài đa năng (vừa là bs giải phẫu, nhà dược học, khảo cổ học, chính trị gia) mô tả bịnh này đầu tiên, lúc đầu gọi bịnh này là "shaking palsy" (bịnh liệt run) (và sau này được thế bằng tên latinh là "paralysis agitans", cũng có nghĩa "bịnh liệt"+ rung).
Mặc dù bệnh nhân cảm thấy yếu ở chân tay của họ, nhưng vấn đề nằm trong não. Các nghiên cứu cho thấy, sức co của cơ bắp lúc cử động lập đi lặp lại (repeated tasks) nếu đo một cách khách quan, được cải thiện với việc dùng các thuốc chữa Parkinson (như Sinemet của bịnh nhân đang dùng gồm chất carbidopa+levodopa được biến dưỡng thành dopamine; Madopar gồm levodopa +benserazide giúp cho levodopa vào não bộ dễ hơn)), vì các thuốc này tăng chất dopamine mà người bịnh trong não bộ.
3) Cũng như nhiều người lớn tuổi được định bịnh với nhiều rối loạn khác nhau: Parkinson (Sinemet, Madopar), tiền liệt phì đại (Combodart=0.5 mg dutasteride and 0.4 mg tamsulosin hydrochloride), áp huyết cao (Amlor=amlodipine, calcium channel blocker), bịnh bón (Macrogol=polyethylene glycol (PEG)), mất ngủ (melatonin), danh sách các thuốc bác sĩ hoặc nhiều bác sĩ kê toa khá dài. Bàn chi tiết sẽ đi ra ngoài khả năng của mục y học này. Về việc tăng hay giảm thuốc hay đổi thuốc khác, đây là quyết định của bác sĩ điều trị cho bịnh nhân.
Xin nhắc lại, các nhận xét trên đây chỉ có tính cách thông tin. Thính giả cần hội ý với bác sĩ của mình.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Tuyến tiền liệt phì đại (Benign Prostatic Hyperplasia, BPH)

Tuyến tiền liệt (prostate) nằm bao quanh niệu đạo (urethra), lúc nước tiểu từ bàng quang (bladder) thoát ra ngoài qua ngã niệu đạo. Tuyến tiền liệt bình thường thể tích chừng 15-30 ml, cỡ bằng trái banh chơi golf. Ở người 50 tuổi trở lên, thể tích trung bình tăng lên từ 24ml lúc 50 tuổi cho đến 38 ml lúc 80 tuổi và PSA từ 1,1 lên đến 2,5 ng/ml và không ảnh hưởng nhiều đến các triệu chứng tiểu tiện (Berges, Germany).
Có thể xem BPH không phải là một cái bịnh mà là một hiện tượng tự nhiên của người già. Chỉ một số người có BPH có triệu chứng đường tiểu (lower urinary tract symptoms, LUTS), và sau 5 năm trong những người thuộc nhóm có triệu chứng (symptomatic group) chỉ có 20% có biến chứng (ví dụ bị bí tiểu). Cho nên mục đích chính là tăng phẩm chất cuộc sống (giảm triệu chứng), thêm một mục đích nữa là ngừa một số trường hợp bí tiểu (làm cho tuyến tiền liệt teo nhỏ hơn) và cải thiện đời sống tính dục (sex).
Tuy nhiên, nếu tuyến tiền liệt quá lớn và đè lên niệu đạo (urethra, là đường thoát nước tiểu từ bọng đái ra ngoài dương vật), bịnh nhân có thể thấy tiểu chậm, tiểu khó, tiểu són hay tiểu nhiều lần (đái láu). Rất hiếm khi bịnh tuyến tiền liệt phì đại lành tính (BPH, benign prostatic hypertrophy) đe dọa đời sống bịnh nhân. Điều quan trọng nhất là bs đánh giá tầm mức của các triệu chứng và chúng ảnh hưởng thế nào đến phẩm chất cuộc sống người bệnh, để quyết định có cần chữa trị hay không, và chữa trị bằng phương pháp nào.
IPSS: Điểm triệu chứng tiền liệt quốc tế (International Prostate Symptom Score)
Người ta có thể định bịnh và ước tính độ nặng nhẹ của bịnh tuyến tiền liệt bằng cách cho bịnh nhân trả lời những câu hỏi sau đây; triệu chứng đi từ 0 (tối thiểu) đến 5 điểm (triệu chứng tối đa). Tối đa là 35 điểm. Score: triệu chứng nhẹ: 1-7; vừa: 8-19; nặng: 20-35.
  1. Trong tháng vừa qua, bạn cảm thấy đi tiểu không hết mà còn dư đọng lại trong bọng đái bao nhiêu lần?
  2. Trong tháng vừa qua, bao nhiêu lần bạn cảm thấy phải đi tiểu lại trong vòng 2 giờ sau khi tiểu xong?
  3. Trong tháng vừa qua, bao nhiêu lần bạn phải ngừng tiểu xong lại tiểu lại nhiều lần trong khi đi tiểu?
  4. Trong tháng vừa qua, bao nhiêu lần bạn thấy khó nín tiểu?
  5. Trong tháng vừa qua, bao nhiêu lần bạn thấy dòng nước tiểu yếu đi?
  6. Trong tháng vừa qua, bao nhiêu lần bạn phải rặn mới bắt đầu tiểu ra được?
  7. Trong tháng vừa qua, điển hình bao nhiêu lần bạn phải dậy đi tiểu mỗi đêm?

    Phẩm chất (chất lượng) cuộc sống: điểm từ 1-6.
  8. Nếu từ nay suốt đời bạn phải đi tiểu như bây giờ, bạn sẽ cảm thấy như thế nào?
Phẩm chất cuộc sống rất quan trọng. Nếu điểm triệu chứng IPSS thuộc loại vừa nhưng người bịnh không thấy phiền hà gì, bác sĩ có thể đợi không cần chữa thuốc và áp dụng những biện pháp như bỏ rượu, cà phê, tránh uống nước nhiều vào buổi tối trước khi đi ngủ, tránh dùng một số thuốc (như thuốc ho, cảm, kháng histamin) làm đi tiểu khó khăn hơn.
Những thuốc tây y để trị các triệu chứng của bịnh tuyến tiền liệt phì đại có tác dụng như sau:
1) alpha blockers (alpha 1a adrenergic receptor): không làm tuyến teo lại mà làm giãn nở các cơ chung quanh tiền liệt và chung quanh cổ của bàng quang, làm nước chảy thông hơn.
Thuốc thường dùng: tamsulosin (Flomax), Terazosin (Hydrin)
Phản ứng phụ: chóng mặt (áp huyết thấp), nhức đầu, xáo trộn tiêu hoá, nghẹt mũi ( loại này cũng là thuốc dùng hạ huyết áp cao)

Vì thuốc tamsulosin cũng tác dụng trên cơ năng của mống mắt (iris,màng che của mắt phía trước thuỷ tinh thể điều tiết lượng ánh sáng vào mắt), làm cho cơ phụ trách giãn nở mống mắt yếu đi, thuốc có thể gây trở ngại cho bác sĩ giải phẫu cườm mắt hay glaucoma (nhãn áp quá cao). Lúc lấy thuỷ tinh thể bị đục ra ngoài trước khi nhét thuỷ tinh thể nhân tạo vào thay thế, vì con ngươi không nở ra đúng cách, phẫu thuật có thể khó khăn hơn và lành lâu hơn. Nếu bịnh nhân đang dùng thuốc tamsulosin (dù là mới dùng) phải cho bác sĩ giải phẫu mắt biết để đối phó với "hội chứng mống mắt yếu trong giải phẫu", intraoperative floppy iris syndrome [IFIS)
Một số bịnh nhân có thể bị chứng xuất tinh ngược. Lúc cao điểm tình dục, tinh dịch có thể không đi ra ngoài (xuất tinh) mà đi ngược vào bọng đái vì cơ tròn kiểm soát đường vào bọng đái không đóng lại (retrograde ejaculation).

2) 5 alpha reductase inhibitors: ức chế men 5 alpha reductase; men này giúp biến hormone nam giới testosterone thành dihydrotestosterone (DHT) là một chất làm tuyến tiền liệt to ra (tăng trưởng). Do đó các thuốc loại này làm cho thể tích của tuyến tiền liệt giảm đi, tuy nhiên có thể cần đợi đến 6 tháng tuyến tiền liệt mới nhỏ lại.

Ví dụ: finasteride (Proscar), dutasteride (Avodart). Dutasteride làm giảm PSA xuống một nửa sau một năm, và thể tích tuyến tiền liệt giảm 25% sau 2 năm, giảm triệu chứng khó tiểu và giảm khả năng ung thư tuyến tiền liệt.
Phản ứng phụ: giảm khả năng cương cứng (erection), giảm ham muốn tình dục (libido), giảm lượng tinh dịch (semen volume).

Nói chung, loại thứ nhất (như tamulosin) làm giảm các triệu chứng đường tiểu giới (lower urinary tract symptoms) như tiểu láu, khó tiểu, trong lúc loại thứ nhì làm giảm sự tắc nghẽn (obstruction) của đường thoát nước tiểu . có thể dùng 2 thuốc cùng một lúc. Lúc nào thì ngưng thuốc được là tuỳ theo bác sĩ quyết định cho từng trường hợp.
Theo khuyến cáo của Hội Niệu Khoa Hoa Kỳ (American Urological Association), những trường hợp sau đây mới cần giải phẫu:
1) Suy thận thứ phát do tuyến tiền liệt phì đại (BPH)
2) Bí tiểu không trị được do BPH
3) Sạn trong bọng đái, hay tiểu có máu tái hồi do BPH
4) Triệu chứng đường tiểu dưới do BPH gây ra mà chữa không hiệu quả hoặc do bịnh nhân không muốn dùng các thuốc khác.
(“Surgery is recommended for patients who have renal insufficiency secondary to BPH, refractory urinary retention secondary to BPH, recurrent urinary tract infections (UTIs), recurrent bladder stones or gross hematuria due to BPH, and/or with LUTS attributed to BPH refractory to and/or unwilling to use other therapies”.)(AUA)
Với những tiến bộ trong vòng 20 năm qua về các thuốc chữa trị BPH, chỉ định giải phẩu càng ngày càng ít đi. Chỉ định chính của phẫu thuật là nếu trị liệu thuốc thất bại, cơ năng thận bị đe doạ do nước tiểu bị ứ đọng và gây ra sạn (sỏi) và nhiễm trùng. Đại đa số các trường hợp chỉ giải phẫu sau khi chữa thuốc thất bại.
Những người không muốn dùng thuốc tây vì không muốn bị các phản ứng phụ nêu trên, ngoài ra các thuốc này cũng đắt tiền.
Những thức ăn sau đây có thể giúp làm giảm nguy cơ tuyến tiền liệt phì đại hay giảm triệu chứng đường tiểu liên hệ:(5)
1) mè (sesame): nhờ hàm lượng zinc (kẽm) cao.
2)cá hồi: nhiều omega 3 fatty acids
3) đậu nành, nhờ hàm lượng isoflavones (nhờ vậy đàn ông châu Á ít bị tiền liệt phì đại hơn)
4) vitamin C từ rau cải: bell pepper, cauliflower, broccoli, kale Vitamin C từ trái cây, thuôc không hiệu nghiệm bằng)
5) cà chua (tomato) nhờ chất lycopene (màu đỏ), cũng như dưa hấu, apricot, bưởi đỏ, đu đủ.
6) avocado nhờ beta sitosterol , cũng như hạt bí rợ, đậu nành, pecans.
7) rau lá xanh, cải (vegetables):nhờ các chất antioxidant (chống oxy hoá) cũng như hành, tỏi.

Những "herbal supplements" ("chất phụ từ cây cỏ") , “herbal treatment” không được gọi là thuốc ở Mỹ, vì tác dụng dược lý, lâm sàng chưa được FDA (cơ quan quản lý dược và thực phẩm Mỹ) xét duyệt và công nhận. Thuốc có thể chưa được chuẩn hoá về liều lượng, phẩm chất và an toàn chưa được chứng minh. Cũng vì thế, những điểm sau chỉ có tính cách thông tin mà thôi, thính giả cần cẩn thận tìm hiểu về những "thực phẩm chức năng" mình muốn dùng.

1) Saw palmetto (cây lá tơi, Serenoa repens, Serenoa serrulata): thuốc dùng trích tinh của trái palmetto chín. Có thể có (nhưng chưa chắc, vì các khảo cứu đưa đến kết quả có lúc trái ngược nhau) tác dụng làm ngăn chặn testosterone biến thành dihydrotestosterone , tương tự như Proscar nói trên.
Theo tài liệu của Mayo Clinic (2):
Liều từ 100mg saw palmetto extract cho đến 960mg/ngày từng được dùng (cho người lớn trên 18 tuổi mà thôi).
Ví dụ: 320 milligrams of saw palmetto extract (e.g., Permixon®, Serendar, Talso®), uống một liều/ ngày hay chia làm 2 liều (80-90% lipidosterolic content),đã được dùng trong 6 tháng trong một số khảo cứu. Libeprosta viên 60 mg, uống 2 viên x 2 lần /ngày

2) Beta-sitosterol: trích từ bông (pollen) của cỏ tên là ryegrass. Có thể giúp cho các triệu chứng về tiểu tiện giảm đi, tuy nhiên chưa có bằng chứng khách quan thuyết phục.
3) Pygeum: trích từ vỏ cây táo ở Châu Phi (African plum, Prunus africanum, Pygeum africanum). Trong 18 khảo cứu, kết quả cho thấy các triệu chứng tiểu tiện (tiểu khó, đái láu..) giảm đi một nửa so với placebo (thuốc giả); lưu lượng nước tiểu tăng 25%.
Viên pygeum extract, 75 mg-200 mg, uống một liều hay chia làm 2 liều/ ngày (cho người trên 18 tuổi, không quá 1 năm.
Xin nhắc lại, các nhận xét trên đây chỉ có tính cách thông tin. Thính giả cần hội ý với bác sĩ của mình.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Ghép thận

Cơ thể học
Mỗi người có hai trái thận (kidneys), to chừng bằng nắm tay (11-14 cm x 6 cm x 4cm) nằm phía sau của xoang bụng, hình hạt đậu (bean-shaped), lõm vào ở phía trong, đối diện với nhau, thận bên phải thấp hơn bên trái vì phải nhường chỗ cho lá gan nằm trên.
Thận có nhiều cơ năng khác nhau:
1) bài tiết nước và các chất hoà tan trong nước như creatinine, urea, những chất đem từ ngoài cơ thể, nay cần được phế thải, ví dụ một số thuốc.
2) giữ quân bình các lượng nước trong cơ thể, các chất điện giải (electrolytes, vd Na+, K+, Ca++, bicarbonate HCO3- ) chứa trong đó, và giữ quân bình pH (không acid quá mà cũng không kiềm quá)
3) vai trò nội tiết (tiết hormone vào máu, endocrine function): điều hoà lượng vitamin D trong cơ thể, lượng hồng cầu được sản xuất trong tuỷ xương (qua erythropoietin), áp huyết, lượng muối natri trong cơ thể (renin>angiotensin>aldosterone axis)

Cơ năng thận

Lúc nói tới cơ năng thận (kidney function, renal function), thường bác sĩ nói tới glomerular filtration rate (GFR), tạm dịch “tỷ lệ lọc ở tiểu cầu” (“độ lọc cầu thận”).
Người ta dùng mức creatinine trong plasma để ước tính, gọi là estimated GFR (hay eGFR), với những công thức khác nhau, trong đó các biến số được tính thêm vào như tuổi, giới tính, màu da (da đen hay da trắng), lượng albumin trong plasma, lượng urea trong plasma). (Bình thường 90-120 ml/mn, tính theo người trung bình, có diện tích cơ thể 1,73m2)
Tuỳ theo số eGFR, bệnh thận mạn tính (chronic renal disease) được xếp theo giai đoạn (stage):
Các giai đoạn bệnh thận mạn tính (Stages)
I) trên 90 ml/mn: cơ năng thận (CNT, renal function) bình thường (nhưng CNT bình thường không có nghĩa là thận không có bịnh). Bác sĩ quan sát bịnh nhân, kiểm soát áp huyết.
II) 60-89 ml/mn CNT giảm nhẹ. Bác sĩ quan sát bịnh nhân, kiểm soát áp huyết, các yếu tố cơ nguy tim mạch khác.
III) 30-59 ml/mn CNT giảm vừa
IV) 15-29 ml/mn CNT giảm nặng (severely reduced). Bs chuẩn bị cho giai đoạn cuối (end stage renal disease)
V) CNT giảm rất nặng (very severely reduced), giai đoạn cuối (ESRD [end stage renal disease]), cần ghép thận (renal transplant), hay lọc máu (dialysis).
Vài nét lịch sử về ghép thận
Trường hợp ghép thận đầu tiên được BS Joseph Murray thực hiện năm 1954 ở Peter Bent Brigham Hospital, Boston, Mỹ trên hai anh em sinh đôi hoàn toàn giống nhau (identical twins ;từ một hợp tử ). Một người bị suy thận và nhận thận ghép từ người kia. Vì là anh em song sinh thật sự (cùng một trứng mẹ), nên cơ thể người nhận không tìm cách loại bỏ thận được ghép. Trở ngại lớn nhất cho việc ghép thận là chế ngự việc hệ miễn nhiễm cơ thể người nhận tìm cách chống lại, đẩy ra ngoài bộ phận bị ghép (graft rejection) mà nó xem là vật ngoại lai, cần tống khứ ra khỏi cơ thể. Lúc đầu người ta ức chế hệ miễn nhiễm người nhận bằng cách chiếu quang tuyến X vào thân thể họ (whole body irradiation), nhưng với nguy cơ là xạ trị sẽ giết luôn người bệnh. Sau đó, người ta tìm được những thuốc ức chế hệ miễn nhiễm tốt như xạ trị nhưng không nguy hiểm bằng. Ví dụ Azathioprine (Imuran) là một thuốc cũng được dùng trị ung thư. Sau đó, năm 1960, Peter B. Medawar tìm ra một cách xếp loại các mô, cũng như cách xếp loại máu được Karl Landsteiner phát minh từ năm 1900, giúp cho bác sĩ chọn những người cho thích hợp với người nhận. Người ta khám phá ra các kháng nguyên bạch cầu ở người (HLA, human lymphocyte antigen), một loại protein phổ biến trong toàn bộ cơ thể ngoại trừ các hồng cầu. Các bạch huyết cầu đặc biệt chứa HLA ở nồng độ cao. Có nhiều loại HLA khác nhau và các loại này khác nhau giữa mỗi người.
Những cách matching này cùng với những thuốc "immunosuppressant" mới hơn và hữu hiệu hơn như cyclosporine ức chế sự đề kháng của người nhận trong những năm 1980's giúp tạo nên sự bùng nổ trong kỹ nghệ ghép thận ở Mỹ: trong 20 năm từ 1954-1973, có chừng 10.000 ca mổ, trong lúc đó có đến 9.000 ca mổ năm 1986, với 85% sống sót sau một năm. (1) Cyclosporine thuộc nhóm calcineurin inhibitor (CNI), sau này tacrolimus là một CNI mới hơn được dùng để ức chế hệ miễn nhiễm sau khi ghép thận và những kháng thể (monoclonal antibodies) chống tế bào lymphocyte và thymocytes được dùng để trị các trường hợp cơ thể đào thải (rejection) bộ phận ghép vào cuối thập niên 1990. Do đó, số bịnh nhân sống sót sau 1 năm tăng lên quá 90%. Năm 2016, ở Mỹ có trên 19.000 vụ ghép thận, đa số từ người chết (deceased donors), 5630 ca từ người hiến tặng sống.
Trước 1975, ở Nam Việt Nam hình như chỉ có một máy lọc máu duy nhất ở Bệnh Viện Dã Chiến Mỹ dành cho quân đội Mỹ tại Sài Gòn, và sau đó có thể ở Tổng Y Viện Cộng Hòa. Hà Nội có một máy loại sơ khai nhất xin được của Thuỵ điển và dùng từ năm 1972 đến 1996.
Phẫu thuật ghép thận đầu tiên được thực hiện bởi Bác sĩ Nguyễn Phước Đại thuộc trường Đại học Y khoa Sài Gòn,ngày 6/6/1969, tại Bệnh Viện Đô Thành Sài Gòn, với sự cộng tác của nhóm y khoa quân đội Mỹ của Bệnh Viện 3 Dã Chiến, trước khi ghép thận được chính thức thực hiện tại các trung tâm quân y trong lục địa Hoa Kỳ. Bệnh nhân là một sinh viên Việt Nam 20 tuổi suy thận mãn tính, người hiến thận là mẹ của anh ta. Lọc máu tiền và hậu được thực hiện tại Bệnh Viện 3 Dã Chiến (3rd Field Hospital).
Ở Mỹ chương trình "mai mối" và thu xếp ưu tiên các nội tạng ghép được thực hiện qua cơ quan tên "Mạng lưới cung cấp và ghép bộ phận" (Organ Procurement and Transplantation Network (OPTN)). Ở Việt Nam, “theo bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, hiện nay, muốn tìm thông tin về người hiến tặng, người bệnh có thể đến cơ sở y tế có chức năng lấy, ghép mô, tạng như: Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức; Bệnh viện Quân Y 103; Bệnh viện Nhi Trung ương; Bệnh viện Bạch Mai; Bệnh viện 198 – Bộ Công an; Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn; Bệnh viện Trung ương Huế; Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng; Bệnh viện Chợ Rẫy; Bệnh viện Nhi đồng 2; Bệnh viện Nhân dân Gia Định; Đại học Y dược Tp. Hồ Chí Minh; Bệnh viện Nhân dân 115; Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang”.(2)
Ghép thận (kidney transplantation) là lấy một quả thận tốt từ người hiến tặng còn sống (mỗi người có 2 trái thận, cho bớt 1 quả cơ thể cũng vẫn làm việc gần như bình thường), hay người hiến tặng đã chết để gắn vào người bệnh đã suy thận vào thời kỳ cuối. Mạch máu nuôi thận được nối với mạch máu của người nhận (động mạch và tĩnh mạch vùng xương chậu, iliac artery and vein) và niệu quản (ureter) của thận được nối với niệu quản hay bọng đái của người bệnh. Thận ghép được nằm trong hốc xương chậu. Hai thận đã hư của người bệnh vẫn để yên chỗ cũ ở phía trên, hai bên cột sống.
Tuổi thọ trung bình của một quả thận được cấy ghép là 12 năm đối với một người hiến thận đã chết, và khoảng 15 năm đối với thận từ người còn sống, có liên hệ máu mủ (living, related transplant). Trung bình cho một thận ghép từ người hiến tặng còn sống không liên quan gia đình là giữa 12-15 năm. Vì vậy, ghép thận 'tốt nhất' (lâu dài nhất) là từ một người thân (related donor), sau đó là một người bạn hoặc vợ chồng , sau đó là một người hiến tặng đã chết (deceased donor).
90% thận ghép còn làm việc một năm sau khi phẫu thuật, 70% sau 5 năm, 50% sau 10 năm trở lên.
Vì vậy, bệnh nhân trẻ tuổi có thể cần hai hoặc nhiều ca cấy ghép trong cuộc đời mình. Nếu ghép không thành công, bệnh nhân có thể khởi động lại lọc máu (dialysis) và quay trở lại danh sách chờ ghép.
Sau khi giải phẫu, bịnh nhân được cho thuốc để ức chế hệ miễn nhiễm, lúc đầu thì liều cao, sau đó liều thấp hơn,nhưng tiếp tục vĩnh viễn. Hiện nay gồm 3 thứ thuốc: loại CNI (cyclosporine, tacrolimus), trị liệu phụ trợ (adjuvant therapy) và corticoid. Người bịnh cần được bác sĩ chuyên khoa thận (tiết niệu) theo dõi suốt đời.
Một số tình huống đặc biệt
1) Preemptive transplant: ghép thận thật sớm, ngay cả trước khi được bắt đầu đi lọc máu; hay "early transplant", ghép thận một thời gian ngắn sau khi thận suy, chỉ một khoảng thời gian ngắn dùng máy lọc máu (hay thận nhân tạo). Hai trường hợp này cho kết quả tốt hơn về lâu dài, phẩm chất đời sống tốt hơn, và tựu chung thì ít tốn kém hơn.

2) Bác sĩ cần đánh giá sức khỏe tổng quát của người bệnh. Bệnh nhân có thể cải thiện sức khỏe tổng quát mình như sụt cân nếu quá mập và bỏ hút thuốc lá, uống rượu. Thường thì không ghép thận cho người bị ung thư hoặc bị nhiễm trùng (HIV, hepatitis C). Gần đây người ta ghép cho những người lớn tuổi hơn trước. Những người bị bệnh tiểu đường nặng , tuỳ tạng (pancreas) của họ không sản xuất insulin (hormone giúp tế bào dùng chất đường) đầy đủ, bác sĩ có thể tính chuyện ghép thận và tuỳ tạng (pancreas) cùng một lúc. Việc đánh giá sơ khởi hoàn cảnh người bệnh bao gồm luôn các khía cạnh tâm lý, xã hội để tiên liệu những nhu cầu tâm lý xã hội của bệnh nhân sau khi giải phẫu.

3)Đối với người cho bộ phận, những kỹ thuật mới "minimally invasive", "xâm phạm ở mức tối thiểu", không cần mở rộng bụng và dùng nội soi (laparoscopic kidney donor surgery), vết mổ nhỏ, có thể được áp dụng để lấy thận ra khỏi cơ thể. Người cho có thể về nhà sau 2-3 ngày và làm việc lại sau 2-3 tuần. Đối với những trường hợp mô người cho và người nhận tương kỵ (incompatible), có những biện pháp để giải quyết vấn đề , làm cho ít tương kỵ hơn. Những trường hợp hoàn toàn không thể giải quyết được, có những chương trình trao đổi thận (kidney swapping, exchange). Ví dụ : Ông A tặng một trái thận cho Bà B, sau đó Ông B sẽ trả một trái thận cho bạn ông A đang cần ghép thận. Trước năm 2007, thận của người cho phải được lấy ra trong một phòng mổ cận kề phòng ghép thận. Hiện nay sau khi thu hoạch thận người cho người ta dùng chất bảo quản và hạ nhiệt độ của thận xuống và có thể chuyên chở đi xa hàng ngàn km, như trường hợp đầu tiên từ California qua bệnh viện Johns Hopkins ở bang Maryland, miền Đông nước Mỹ. Thận ở ngoài cơ thể từ 2,5 đến 14,5 giờ, trung bình 7,6 giờ mà ghép vẫn tốt.
4) Hiện nay, do đời sống càng ngày càng kéo dài, chừng một nửa số người đến giai đoạn cuối của bệnh thận (end stage renal disease, ESRD) và cần thay ghép thận hoặc lọc máu thường xuyên là trên 65 tuổi, một phần tư trên 75 tuổi. Cứ 200 người trên 75 tuổi thì một người mắc ESRD. Tuy nhiên, tại đa số các trung tâm, ghép thận cho người trên 75 tuổi rất hiếm. Cho nên quyết định già bao nhiêu thì còn ghép thận được một cách hợp tình hợp lý là một câu hỏi càng ngày càng phải đặt ra. Nói chung, so với người chờ đợi và được lọc máu, người được ghép thận trên 60 tuổi sống lâu hơn 2-4 năm, tuỳ theo thời gian chờ đợi được ghép thận, và phẩm chất cuộc sống của họ được tăng cường đáng kể.(4)
Nói chung tuổi bệnh nhân càng lớn thì thì các bệnh khác có thể đi kèm theo ESRD sẽ nhiều hơn và trở ngại cho việc ghép thận, cũng như cơ may việc ghép thận có kết quả tốt sẽ có chiều hướng giảm đi, do đó người trên 65 tuổi ít hy vọng được lên list ghép thận hơn người trẻ .
Tuy nhiên, theo BS Stefan G. Tullius (BWH), có những khảo cứu cho thấy nếu người cho và người nhận lứa tuổi gần với nhau thì có thể kết quả sẽ tốt hơn (matching donor and recipient age improves outcome). Có nghĩa nếu người cho lớn tuổi, thay vì ưu tiên cho người nhận trẻ tuổi như thường lệ, ghép bộ phận đó cho người nhận có tuổi lớn hơn, già hơn có thể kết quả cuộc ghép sẽ tốt hơn. Người càng già thì hệ miễn nhiễm của họ yếu đi (reduced immune response), cơ thể của họ cố gắng 'trục xuất' (rejection) bộ phận lạ yếu ớt hơn, và đấy có thể là một lợi thế giúp cho cơ thể họ chấp nhận bộ phận được ghép vào, thuận tiện hơn là sự chấp nhận của cơ thể có hệ miễn nhiễm mạnh hơn của người nhận trẻ tuổi.
BS Hồ Văn Hiền

Cườm mắt (cataract)

Theo gốc Hy lạp và La tinh, cataract có nghĩa đổ xuống, giống như một cái thác nước, thuỷ tinh thể mắt (lens, cristallin (French)) đổi qua màu trắng như một màng trắng buông xuống, chặn ánh sáng vào mắt; khác với “cườm nước”, hay glaucoma. Do nghĩa gốc glaucoma là màu xanh vert (xanh lá cây, green), cũng có nghĩa là đục, đờ đẫn (dull sheen), là cái nhìn không thần sắc của người mù mắt. Mấy ngàn năm trước thời, La-Hy, người ta chưa phân biệt cataract và glaucoma. Bịnh glaucoma do áp suất các chất dịch trong tròng mắt quá cao. Cả hai loại cườm đều có thể hiện diện trong mắt; cataract to quá trong một số trường hợp có thể gây ra glaucoma, cũng như giải phẫu chửa glaucoma có thể gây biến chứng là cataract. Nên hỏi bác sĩ ngoài vấn đề cườm khô mình có bịnh cườm nước hay bịnh gì khác hay không.
Trong bịnh cataract, hoặc cườm khô, có một vết đục trong thủy tinh thể của mắt (lens). Trong một cái máy chụp hình, nhìn vào phía trước, chúng ta thấy một thấu kính (camera lens) để cho ánh sáng đi vào phía sau và ánh sáng in hình lên phim hoặc trên màng phim tiếp nhận. Mắt chúng ta cũng tương tự như một cái máy chụp hình, ánh sáng cũng đi qua một bộ phận như một cái thấu kính, bộ phận đó là thủy tinh thể (lens). Lúc cườm khô (cataract) mới xuất hiện, người bịnh thường không thấy thay đổi gì trong khả năng mình trông thấy, nhưng từ từ theo thời gian, vết đục càng ngày càng ảnh hưởng tới thủy tinh thể mắt, làm cho người bịnh biết mắt mờ đi (blurred vision), hình thể sự vật bị méo mó, người bịnh xốn mắt, khó chịu lúc nhiều ánh sáng và dễ bị chóa mắt lúc nhìn vào một ngọn đèn (glare). Cataract không chữa bằng thuốc uống được. Cách chữa duy nhất là giải phẫu (mổ), bằng cách lấy cái thuỷ tinh thể đã vẫn đục ra khỏi cái vỏ (capsule) chứa đựng nó và thay thế vào đó bằng một kính nhân tạo bằng plastic (silicone hay acrylic) (intraocular lens, IOL). Bác sĩ có thể chọn IOL thích hợp để chữa luôn bệnh cận thị, viễn thị hay loạn thị của người bệnh.
Về câu hỏi, lúc nào thì nên giải phẫu lấy cườm khô ra, sau đây tôi xin sơ lược một số điểm căn cứ trên thông tin của hội các bác sĩ chuyên khoa mắt của Hoa Kỳ (American Academy of Ophthalmology, AAO) (1):
1) Bác sĩ định bịnh cataract cho bạn không có nghĩa là phải giải phẫu ngay. Lúc đầu, bịnh nhẹ, đo mắt và mang kính (gương) để sửa lại một số rối loạn về khúc xạ (refraction) như cận thị, viễn thị, loạn thị, hay nhờ kính đặc biệt làm bớt loá do đèn ban đêm, có thể làm thị giác khả quan hơn, thấy rõ hơn.
2) Tuy nhiên, với thời gian, cườm khô sẽ "chín mùi" hơn ("mature") và cuộc sống hàng ngày có thể bị ảnh hưởng, giới hạn. Mặc dù nhiều bịnh nhân sợ mổ, phẫu thuật lấy cườm khô là phẫu thuật phổ biến nhất được thực hiện trên người già trong chương trình Medicare (bảo hiểm cho người trên 65 tuổi tại Mỹ).
3) Phẩm chất cuộc sống gia tăng sau khi mổ, ít bị té hơn, ít bị tai nạn lưu thông hơn, cơ nguy chết về lâu dài cũng ít hơn.
4) American Academy of Ophthalmology (AAO) khuyên bịnh nhân tự hỏi:
Cườm khô có ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày hay nghề nghiệp hay không? Ví dụ bạn có thể thấy mờ hơn, chóa mắt/ loá hơn, màu vàng hơn, có thể thấy một thành hai trong cùng một mắt (double vision in one eye), nếu nghề nghiệp của mình bị trở ngại. Ví dụ: bác sĩ chuyên khoa da, hoạ sĩ, thợ sửa đồng hồ, tài xế, người thích chụp hình (thay đổi màu sắc, không trung thực), nấu ăn, may vá (cần phân biệt chi tiết).
Cườm khô có ảnh hưởng đến việc lái xe ban đêm một cách an toàn hay không (vd ánh đèn các xe ngược chiều làm loá mắt); lấy bằng lái xe có bị trở ngại vì thị giác kém không?
Những người sinh hoạt ngoài trời nhiều như đánh golf, trượt tuyết, bơi lội: cườm có ảnh hưởng gì không. Nên để ý, nếu mắt mờ một bên, có thể không ước tính được độ xa gần chính xác như người dùng 2 mắt phối hợp với nhau.
Những biện pháp giản dị có giúp bạn thoải mái vừa đủ hay không: dùng màu sắc sáng hơn, tươi hơn (ví dụ: điện thoại màu đỏ trên quầy bếp màu trắng dễ tìm hơn là nếu cả hai cũng màu đen), thắp đèn sáng hơn ( ví dụ đường vào phòng tắm), hay đèn tự động sáng lúc đi ngang qua. Mang kính mát dùng ánh sáng phân cực (polarized sun glasses), mang nón/mũ vành rộng lúc ra ngoài nắng, dùng kính lúp để đọc sách. Theo bác sĩ R. Goel, phát ngôn viên của hội AAO: "Nếu cườm không làm xáo trộn cuộc sống của bạn, có lẽ còn đợi thêm được, và lúc nào nó thật sự bắt đầu làm phiền bạn thì đi giải phẫu. Đối với những ai cảm thấy cườm làm sự vật nhìn thấy nhoà và kém tươi, thủ thuật lấy cườm có thể giúp ích đáng kể.”
5) Người ta chỉ dùng phẫu thuật cườm khô trong mục đích cải thiện, làm khả năng nhìn tốt hơn, rõ hơn mà thôi. Trừ trường hợp phần sau mắt có bịnh cần khám theo dõi, chữa trị (vd bịnh võng mạc) cần phải lấy cườm đục ra mới nhìn thấy được phía sau.
6) Một số trường hợp nếu chờ lâu quá mới giải phẫu, thuỷ tinh thể (lens) có thể đặc quá (dense, hard nuclei), cứng và nâu, có thể gây trở ngại cho bác sĩ giải phẫu lúc lấy thuỷ tinh thể ra. (2) Hiện nay bác sĩ thường dùng kỹ thuật phacoemulsification, nghĩa là "nhũ tương hoá thuỷ tinh thể" (bs dùng dụng cụ siêu âm để phá vỡ thuỷ tinh thể thành từng mảnh nhỏ và hút ra ngoài, trước khi để thấu kính nhân tạo vào trong vỏ của thuỷ tinh thể).(2)
Nói tóm lại, giải phẫu lúc nào phần lớn do bịnh nhân cảm thấy mình có muốn và cần thị giác tốt hơn hiện có hay không, mình có khả năng tài chánh để đài thọ những gì mình muốn hay không (ví dụ các thấu kính nhân tạo (IOL) có nhiều loại khác nhau, khả năng khác nhau và giá tiền khác nhau) và bác sĩ có đồng ý với sự lựa chọn của mình hay không.
Biến chứng:
1) Vết đục mặt sau vỏ bọc thuỷ tinh thể (Posterior Capsule Opacities, PCO).
Đây là một trong những biến chứng thường xảy ra nhất. Lúc bác sĩ mắt lấy thuỷ tinh thể đã hư ra khỏi vỏ bọc [capsule] trong suốt của nó để thay thế bằng thuỷ tinh thể nhân tạo, trong chừng 20% các trường hợp, một số tế bào biểu bì của thuỷ tinh thể (lens epithelial cells) còn sót lại và mọc lên trên mặt sau của vỏ capsule, làm vỏ vẩn đục và bịnh nhân thấy mờ; thời gian có thể là lúc mới hồi phục hoặc vài tháng sau đó.
Capsulotomy:
Chữa trị PCO khá giản dị, thực hiện ngoại chẩn chừng vài phút thì xong. Bác sĩ dùng tia laser rọi vào mắt, nhắm vào vùng vỏ [capsule] bị đục , phá huỷ các tế bào biểu bì và bịnh nhân thấy rõ ràng trở lại (YAG laser capsulotomy). Sau đó bs có thể cho thuốc nhỏ mắt có tác dụng giảm viêm. Bịnh nhân có thể thấy rõ lại nội trong ngày và sinh hoạt như bình thường. Tuy nhiên bịnh nhân có thể thấy như "ruổi bay" trước mắt (floaters, mouches volantes ( Pháp)). Các floaters này sẽ hết sau vài tuần. Cũng như phẫu thuật lấy cataract, capsulotomy là một thủ thuật rất an toàn. Tuy nhiên, về biến chứng: sau khi mổ cataract có 1% cơ nguy bị tróc võng mạc (detachment of the retina); cơ nguy này tăng thêm 1% nữa (=2%) sau khi là capsulotomy.
2) Thấu kính nhân tạo nội tròng bị lệch chỗ (dislocation or displacement of the intraocular lens): Khi đặt thấu kính IOL vào vỏ [capsule], có thể IOL không nằm đúng vị trí.
Lý do:
Vỏ chứa thuỷ tinh thể vì rất mỏng (dày bằng một hồng cầu) có thể đã bị rách sau khi lấy cataract ra.
Các sợi giữ vỏ capsule bị đứt (zonules)
Cánh ("arms" giữ IOL có thể bị hư, gảy, không neo IOL đúng cách trong vỏ capsule.
Nếu IOL bị lệch, bs cần biết sớm để may lại giữ nó đúng chỗ, hay thay IOL khác. Sau 3 tháng, sẽ khó lấy IOL ra vì nơi mổ đã thành thẹo dính chặt lại. Nghiên cứu trên 17000 trường hợp ở Mayo Clinic (Mỹ) cho thấy tỷ lệ sau 10 năm 1/1000, sau 20 năm 7/1000 và sau 25 năm là 17/1000.
3) Tróc võng mạc (võng mô) (detachment of the retina)
4) Bịnh nhân có thể vẫn bị mờ mắt sau khi đã giải quyết vì những bịnh khác nhau ở võng mạc như thoái hoá điểm vàng võng mạc (macular degeneration) ở người già, bịnh võng mạc do tiểu đường (diabetic retinopathy), vv (3,4))
7 điều có thể giúp ngừa đục thủy tinh thể (Theo VisionSource-Reference- 5)
Các nghiên cứu không kết luận dứt khoát về phòng ngừa đục thủy tinh thể, mặc dù nhiều bác sĩ đồng ý rằng có những điều có thể giúp giảm nguy cơ đục thủy tinh thể và duy trì sức khỏe toàn diện của mắt, chẳng hạn như:
1) Đi khám bác sĩ mắt thường xuyên. Ngay cả khi tầm nhìn của bạn rõ ràng và khỏe mạnh, nên hẹn khám mắt hàng năm, giúp phát hiện các dấu hiệu đục thủy tinh thể (cataract), tăng nhãn áp (glaucoma), thoái hóa điểm vàng (macular degeneration) và các rối loạn thị lực khác. Phát hiện sớm có thể thực sự cứu thị giác của bạn.
2) Chế độ ăn uống giàu chất dinh dưỡng tốt. Có một số chất chống oxy hóa (antioxidant), vitamin và khoáng chất có thể giúp giảm nguy cơ phát triển bệnh đục thủy tinh thể. Một nghiên cứu năm 2008 của 35.551 phụ nữ phát hiện ra rằng những người tiêu thụ nhiều lutein và zeaxanthin nhất (chất chống oxy hóa được tìm thấy trong rau lá vàng hoặc xanh đậm), có nguy cơ bị đục thủy tinh thể thấp hơn 18% so với những người tiêu thụ ít nhất lutein và zeaxanthin. Một nghiên cứu khác được thực hiện vào năm 2005 cho thấy axit béo omega-3 có thể giúp bảo vệ đôi mắt tránh sự phát triển đục thủy tinh thể. Căn cứ trên dữ liệu về 71.083 phụ nữ, các tác giả của nghiên cứu phát hiện ra rằng những người có lượng omega-3 cao hơn (được tìm thấy trong cá nhiều dầu như cá hồi và cá mòi (salmon, sardine), cũng như trong hạt lanh) có nguy cơ bị đục thủy tinh thể. Ăn thực phẩm chứa nhiều chất chống oxy hóa như beta-carotene, selenium và vitamin C và E có thể giúp ngăn ngừa sự phát triển đục thủy tinh thể.
3) Bỏ hút thuốc - hoặc tốt hơn, đừng hút. Tất cả chúng ta đều biết rằng thuốc lá gây nguy hiểm cho sức khỏe cho người hút và những người xung quanh. Nghiên cứu cho thấy rằng hút thuốc tăng gấp đôi cơ hội phát triển bệnh đục thủy tinh thể và nguy cơ tiếp tục phát triển tĩ lệ với lượng thuốc lá được dùng.
4) Cắt giảm các loại rượu, bia. Giống như thuốc lá, tiêu thụ quá nhiều rượu có thể gây ra một số rủi ro về sức khỏe, bao gồm tăng nguy cơ bị đục thủy tinh thể.
5) Bảo vệ đôi mắt lúc ra nắng! Một nghiên cứu năm 2014 của John Hopkins đã chứng minh rằng những năm tiếp xúc với ánh sáng mặt trời mãn tính có thể làm tăng nguy cơ bị đục thủy tinh thể. Nên đội mũ rộng vành và mang kính mát có khả năng bảo vệ tia cực tím khi ra ngoài nắng lâu.
6) Kiểm soát bệnh tiểu đường. Dữ liệu cho thấy những người mắc bệnh tiểu đường có nhiều nguy cơ bị đục thủy tinh thể hơn. Đó là lý do tại sao duy trì lượng đường trong máu ở mức vừa phải rất quan trọng - cho cả sức khỏe nói chung cũng như sức khỏe thị giác.
7) Tránh sử dụng thuốc corticosteroid dù là lâu hay chỉ thời gian ngắn. Dùng steroid lâu dài làm đục thủy tinh thể. Tuy nhiên, về các steroid dạng hít (inhaler) và xịt mũi (nasal spray) dùng để trị bệnh suyễn và dị ứng mũi, không có bằng chứng dứt khoát chúng có làm tăng nguy cơ đục thủy tinh thể hay không.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền