Tuesday, August 29, 2017

Đau cổ họng

Triệu chứng đau cổ họng là một nguyên nhân rất thông thường khiến cho người ta phải đi khám bệnh. Triệu chứng này gây ra 18 triệu lượt khám bệnh mỗi năm tại Mỹ. 
Đa số các vị phụ huynh thường mau mau dẫn con em mình đi khám bệnh khi nghe chúng kêu là bị đau cổ họng. Đó là vì ai nấy đều tin tưởng rằng đau cổ họng là một bệnh khá nghiêm trọng, cần phải được bác sĩ chữa ngay bằng trụ sinh. Thực ra, đau cổ họng không phải là một bệnh mà chỉ là một triệu chứng của rất nhiều bệnh khác nhau, từ nhẹ đến nặng. Khi một người kêu là bị đau cổ họng, không có nghĩa là chỉ có một cách chữa là cho uống hay chích thuốc trụ sinh. Chúng ta cần biết nguyên nhân của triệu chứng đau cổ họng ấy là gì để chữa cho đúng cách.
Nguyên nhân của đau cổ họng
Như trên đã nói, đau cổ họng là triệu chứng của nhiều bệnh khác nhau như sau:
1. Cảm: ngoài đau cổ họng, bạn còn có thể bị hắt xì, chảy nước mắt, ho, sốt nhẹ dưới 102 độ F, nghẹt mũi và hơi đau nhức người và đầu. 
2. Cúm: bạn có thể bị thêm mệt mỏi, rất đau nhức khắp người, ớn lạnh, ra mồ hôi và sốt cao hơn 102 độ F. 
3. Bệnh Mononucleosis: bạn sẽ bị đau cổ rất nhiều, bệnh sẽ kéo dài hơn 10 ngày là ít. Ngoài ra bạn có thể bị thêm sưng hạch ở cổ và nách, sưng cục thịt dư trong cổ họng, nhức sầu, người nổi mẩn đỏ, lá lách bị sưng lên và gan cũng bị viêm. 
4. Những bệnh do siêu vi khác: như sởi, thủy đậu, croup cũng làm đau cổ họng. 
5. Nhiễm vi trùng (bacteria): những bệnh do vi trùng gây ra thường nặng hơn và cần được chữa trị gồm có: “strep throat” tức nhiễm vi trùng strep nơi cổ họng, bệnh sưng yết hầu (diphtheria) rất nguy hiểm. 
6. Những bệnh dị ứng: bạn sẽ bị thêm mắt đỏ và sưng, chảy nước mũi. . ngoài triệu chứng đau cổ họng
7. Không khí khô: khi bạn mở lò sưởi trong nhà quá cao, không khí khô có thể làm bạn đau cổ họng, nhất là khi mới ngủ dậy. Ngoài ra nếu bạn hay bị nghẹt mũi và phải thở bằng miệng, bạn cũng sẽ bị đau cổ do cổ bị khô. 
8. Những chất gây ô nhiễm không khí như thuốc lá, thuốc xịt trong nhà có thể làm bạn bị đau cổ họng. Ngoài ra, rượu, thức ăn nhiều gia vị cũng làm sưng cổ khiến bạn đau. 
9. Bắp thịt cổ họng bị quá căng: thí dụ như sau khi bạn hò hét vì quá hứng chí trong khi coi một trận đá banh chẳng hạn. 
10. Ợ từ bao tử lên thực quản: nước dịch vị trong bao tử trào lên thực quản tới cổ họng gây ra sưng và đau. 
11. Bệnh siêu vi HIV: bệnh nhân HIV khi có số bạch huyết cầu CD 4 quá thấp, dưới 500 có thể bị đau cổ kinh niên do nhiễm trùng cổ họng. 
12. Bướu: nếu bạn hút thuốc uống rượu nhiều, bạn sẽ dễ bị bướu ở cổ họng, lưỡi và thanh quản. Một trong những triệu chứng của các bướu này là đau cổ họng. 
13. Nhiễm trùng xoang mũi kinh niên hay thường xuyên: nước chẩy từ mũi hay xoang mũi xuống cổ họng có thể gây ra nhiễm trùng và đau.
Khi nào nên đi khám bệnh
Dù làm cho bạn khó chịu, đa số các trường hợp đau cổ họng đều không có gì nguy hiểm và sẽ tự hết được trong vòng 5 tới 7 ngày. Nhưng đôi khi đau cổ họng có thể là triệu chứng một bệnh nặng. Nếu đau cổ họng kèm theo những triệu chứng sau đây, bạn bên đi khám hay đem con em mình đi khám bệnh:
1. Đau cổ họng rất nhiều hoặc kéo dài quá 1 tuần. 
2. Khó nuốt hay khó thở
3. Đứa bé bị chẩy nước miếng nhiều
4. Nhiệt độ cao hơn 101 nơi em bé dưới 6 tháng và hơn 103 nơi trẻ em lớn hơn. 
5. Hạch ở cổ sưng lớn và đau
6. Có mủ đằng sau cổ họng
7. Nổi mẩn đỏ
8. Khàn tiếng kéo dài quá 2 tuần
9. Có máu trong đờm hay nước miếng
10. Có triệu chứng bị khô nước như mắt trũng xuống, yếu ớt và không có nước tiểu trong nhiều giờ. 
11. Có tiếp xúc với người bị nhiễm trùng “strep” nơi cổ họng. 
12. Đau đi đau lại nhiều lần.
Cách chữa
Như trên đã nói, đa số các trường hợp đau cổ họng đều tự hết mà không cần phải chữa. Nếu đau cổ họng là do nhiễm siêu vi, không có thuốc gì để chữa cả. Nếu bệnh nhân được thử nghiệm cho thấy là bị nhiễm vi trùng “strep”, bác sĩ sẽ cho toa mua trụ sinh uống. Cần phải uống hết số thuốc bác sĩ đã cho vì bệnh “strep throat” nếu không chữa có thể đưa đến vài biến chứng nguy hiểm như viêm thận hay đau tim.
Ngoài thuốc trụ sinh do bác sĩ cho toa, bệnh nhân còn có thể theo những cách sau đây để được dễ chịu hơn:
1. Uống nhiều chất lỏng
2. Súc cổ họng với nước muối ấm. 
3. Uống nước nóng có mật ong và chanh sẽ làm bớt đau cổ họng
4. Ngậm kẹo trị đau cổ họng: sẽ làm tăng nước bọt tiết ra khiến cổ họng được sạch và dễ chịu. 
5. Giữ không khí trong nhà ẩm. 
6. Tránh khói thuốc lá và những chất thuốc xịt khác. 
7. Giữ không nói nhiều để cổ họng nghỉ.
Cách phòng ngừa
Đối với các trường hợp đau cổ do nhiễm siêu vi hay vi trùng, cách phòng ngừa hữu hiệu nhất vẫn là rửa tay thường xuyên. Ngay cả trẻ em cũng cần được dạy rử a tay kỹ lưỡng, nhất là sau khi dùng nhà cầu hay trước khi ăn, sau khi vuốt ve thú nuôi. . . Hiện nay có những chất thuốc rửa tay không cần nước trong có chứa chất alcohol (hand sanitizers) rất tiện dụng và hữu hiệu trong việc diệt vi trùng gây bệnh. Nên chọn loại có chứa alcohol mới tốt. 
Ngoài ra, ta nên chú ý đến những phương cách sau đây để giảm thiểu bị lây bệnh:
1. Không cùng chung muỗng đũa, ly, khăn lau miệng. . . 
2. Tránh đụng vô điện thoại công cộng hay dùng miệng kê uống nước ở các vòi nước công cộng. 
3. Tránh xa người đang bệnh
4. Không hút thuốc lá và tránh hít khói thuốc lá của người khác. 
5. Ở trong nhà vào những ngày ô nhiễm không khí nhiều
6. Nếu không khí trong nhà khô, nên làm ẩm lên.

BS Nguyễn Thị Nhuận

Bệnh phong thấp rheumatoid arthritis

Người Việt mình cứ thấy đau nhức chân tay mình mẩy thì cho là bị mắc phong thấp, không “khoa học” tí nào cả. Thậm chí, các em bé bị chảy mồ hôi đầu nhiều cũng bị gán cho nhãn hiệu phong thấp. Người Mỹ thì cũng không hơn gì chúng ta. Họ cũng có những tin tưởng về y khoa đã in trí từ nghìn xưa, truyền từ đời ông bà đến đời cháu chắt mà không có một căn bản khoa học nào chứng minh cả.
Thực ra, có tới hơn 100 loại sưng khớp xương gây ra đau nhức và tàn tật cho hằng chục triệu người Mỹ (Mỹ đen, trắng lẫn Mỹ vàng là chúng ta đây). Trong những loại bệnh sưng khớp này thì bệnh phong thấp Rheumatoid Arthritis (gọi tắt là RA) là bệnh nặng nhất, gây ra đau nhức khớp xương rất nhiều và dần dần làm biến dạng các khớp xương này khiến bệnh nhân không sử dụng tay chân được đến nỗi những cử dộng thông thường nhất như mở nắp hộp hay đi đứng cũng rất khó khăn. Có tới hơn hai triệu người Mỹ đang bị phong thấp RA. Bệnh này xảy ra ở đàn bà nhiều hơn đàn ông và thường bắt đầu vào khoảng tuổi từ 20 tới 50 nhưng cũng có thể xảy ra ở trẻ nhỏ và người lớn hơn 50.
Triệu chứng
Những triệu chứng này có thể xảy ra rồi biến mất và trở lại với thời gian.
1. Đau nhức và sưng các khớp , nhất là những khớp xương nhỏ của bàn tay và bàn chân.
2. Đau nhức hoặc cứng toàn thể các khớp xương và bắp thịt, nhất là sau khi ngủ dậy hay sau một thời gian nghỉ ngơi.
3. Các khớp không cử động được
4. Bắp thịt nơi chỗ khớp đau bị yếu đi
5. Mệt mỏi, nhất là khi bệnh trở nặng
6. Sốt nhẹ
7. Theo với thời gian, các khớp xương bị biến dạng.
8. Không cảm thấy khỏe
Bệnh phong thấp RA thường xảy ra ở nhiều khớp xương cùng lúc. Khi mới bị bệnh, các khớp xương ở cổ tay, bàn tay, bàn chân và đầu gối thường bị hơn cả. Theo với thời gian, các khớp vai, khuỷu tay, háng, cằm và cổ có thể bị ảnh hưởng. Cả hai bên cơ thể thường bị cùng lúc.

Nơi những điểm dễ va chạm nhất (pressure points) của khớp xương ở khuỷu tay, bàn tay và bàn chân hay dây gân gót chân Achille có thể nổi lên những cục u nhỏ gọi là cục phong thấp. Các cục u này cũng có thể mọc ở các khớp xương khác, ngay cả trong phổi nữa. Những cục u này có thể nhỏ bằng hạt đậu nhưng cũng có thể lớn bằng quả ổi nhỏ nhưng không gây đau đớn gì cả.

Bệnh phong thấp RA đặc biệt có thể gây viêm các tuyến nước mắt, tuyến nước bọt, màng tim và phổi, phổi và ngay cả các mạch máu. Đây là một bệnh kinh niên, có lúc thuyên giảm có lúc nặng lên. Không có cách chữa cho hết hẳn bệnh này nhưng nếu biết cách dùng thuốc và những phương tiện bảo vệ các khớp, bệnh nhân vẫn có thể sống cuộc đời hạnh phúc và lâu dài.
Nguyên nhân
Bệnh phong thấp RA gây ra do màng lót các khớp xương bị sưng lên khiến tiết ra một chất đạm làm màng này ngày càng dầy lên. Chất đạm này cũng phá hoại lớp sụn, xương, gân và dây chằng nơi khớp. Dần dần, khớp xương bị dị dạng, méo mó và có thể bị phá hủy.
Tại sao các màng lót bị sưng lên? Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nhiễm trùng là nguyên nhân và một số người có những gien di truyền khiến họ dễ bị nhiễm trùng. Một số các nhà nghiên cứu khác cho rằng kích thích tố có thể đóng một vai trò trong việc gây ra bệnh phong thấp RA.
Những yếu tố khác có thể làm một người dễ mắc bệnh RA là: tuổi già, phái nữ, hút thuốc lá.
Biến chứng
Bệnh phong thấp RA gây ra cứng, đau khớp xương và mệt mỏi. Dần dần, bệnh nhân khó có thể làm những việc dù thông thường nhất như cầm cây bút, vặn nắm cửa... Bệnh nhân có thể bị trầm cảm do việc này. Bệnh nhân RA cũng dễ mắc bệnh sưng khớp và xương (osteoarthritis, một dạng bệnh phong thấp khác), và bệnh tim...
Cách chữa
Thuốc: 
Làm bớt đau và ngăn sự tiến triển của bệnh. Gồm có: thuốc chống viêm NSAIDs, COX 2 inhibitors, Steroids, DMARDs, IL 1 Ra, thuốc chống miễn nhiễm, TNF blockers, thuốc chống trầm cảm...
Giải phẫu:
1. Lọc máu: lấy bớt những kháng thể làm viêm và đau khớp.
2. Giải phẫu thay khớp : khi khớp xương đã bị phá hủy quá nhiều, giải phẫu thay khớp có thể tái tạo chức năng của khớp và làm giảm đau.
Cách tự săn sóc
Ngoài những cách chữa bệnh do bác sĩ thực hiện kể trên, bệnh nhân cũng cần biết cách tự săn sóc bệnh của mình khiến giúp cho cuộc sống bớt khó khăn cũng như ngăn chặn sự tiến triển của bệnh.
1. Tập thể dục thường xuyên: bệnh nhân cần hỏi bác sĩ hay nhân viên thể lý trị liệu về những thể dục nào thích hợp và cần thiết.
2. Giữ không lên cân nhiều: số cân dư sẽ làm cho các khớp xương phải chịu sức ép nhiều hơn và dễ bị phá hoại hơn.
3. Ăn uống đúng cách: ăn nhiều rau, trái cây và ngũ cốc nguyên hạt
4. Tắm nước nóng hay dùng bình nước nóng đặt lên các khớp để giảm đau, thư giãn các bắp thịt và tăng máu đến khớp.
5. Dùng sức lạnh khi bệnh tăng lên: lạnh làm cho giảm đau, làm tê và giảm co thắt bắp thịt. Nếu bệnh nhân đang bị tê và máu lưu thông không tốt, không nên dùng sức lạnh.
6. Tập những phương pháp thư giãn: thôi miên, thở sâu, thư giãn bắp thịt.
7. Uống thuốc đầy đủ theo lời dặn của bác sĩ.
8. Giữ thái độ lạc quan: cùng với bác sĩ, sắp đặt trước những gì cần làm để chống lại cơn bệnh. Việc này sẽ làm cho bạn lạc quan vì mình chủ động trong việc đối phó với căn bệnh.
9. Dùng những dụng cụ giúp mình vận động: thí dụ như những đồ ràng đầu gối, gậy chống, ràng bàn tay...Nói chuyện với bác sĩ về những dụng cụ này.
10.Không làm quá sức mình: nghỉ ngơi khi cần
Những cách chữa khác
Bệnh nhân phong thấp RA có thể muốn dùng thử những phương cách chữa trị khác như châm cứu, thuốc Bắc, thuốc dùng thêm như glucosamine, chondroitin sulfate..., nam châm... Tuy nhiên, nên nhớ rằng những phương pháp này không được theo dõi và kiểm chứng đầy đủ. Do đó, bệnh nhân phải cẩn thận tìm cho đúng thầy đúng thuốc, không nên dùng bừa bãi.

BS Nguyễn Thị Nhuận

Friday, August 11, 2017

Đau ngực

1) Có nhiều lý do để đau ngực, ngoài việc đau tim do nhồi máu cơ tim. Ở người trẻ tuổi, trước đó mạnh khoẻ, cơ nguy thấp hơn người già. Nếu các bác sĩ chuyên môn về tim đã khảo sát kỹ như vậy qua thời gian 2 năm và vẫn kết luận là "yên tâm, không có gì" thì chắc cơ nguy lại càng ít hơn nữa.
Nếu một người trung niên mạnh khỏe bị đau ngực lúc đang đẩy một chiếc xe gắn máy, một trong những nguyên nhân thường gặp nhất là đau xương khớp. Các xương sườn nối liền với xưng ức (sternum) bằng những khớp sụn, đôi khi các khớp này bị viêm (costochondritis), bịnh nhân đau lúc làm việc nặng, đẩy mạnh, xoay người, hít sâu vào. Các khớp này nằm dọc theo hai bên xương ức nên cho cảm tưởng như đau ngay tim, hay đau tim. Nếu đè vào khớp, hoặc hít sâu, xoay người có thể tạo nên cơn đau như vậy, và giúp xác nhận nguồn gốc cơn đau.
2) Huyết áp có thể lên cao lúc lo âu, hồi hộp, sau khi tập thể dục, lúc vào phòng mạch bác sĩ gặp người "áo trắng" (white coat syndrome"). Nếu huyết áp cao thật sự, phải uống thuốc đều đặn và lâu dài, mục đích là để che chở các mạch máu và các bộ phận như óc, mắt, thận. Nếu mấy tháng sau khi ngưng thuốc, áp huyết vẫn bình thường, nhất là bác sĩ chuyên về tim đã bảo yên tâm, có lẽ chỉ cần đi khám định kỳ là được. Cần một bác sĩ gia đình theo dõi cho mình, nhất là giúp giải toả cái lo âu của mình. Nếu mình tự tìm hiểu lấy, có thể càng lo thêm. Y khoa có thể giống như một cái rừng, người không kinh nghiệm thực hành mà chỉ đọc sách, bài internet cũng giống như đi thám hiểm mà chưa biết dùng bản đồ, có thể làm mình bối rối, quýnh thêm, và càng đi lạc hơn nữa.
3) Về chuyện 2 nơi đo tâm điện đồ (EKG) đều cho rằng có nguy cơ nhồi máu cơ tim (tháng 2-6/2015), có thể các máy này có chương trình điện toán theo một "paradigm" giống nhau, nên diễn giải tâm điện đồ giống nhau, nhất là nếu kỹ thuật của chuyên viên đo không chuẩn (như lau sạch da, dùng các điện cực tốt, đúng vị trí). Quan trọng nhất vẫn là ý kiến của bác sĩ chuyên khoa như thế nào, có đồng ý với kết quả của computer hay không. Nói chung, máy đo tim đọc kết quả tự động (có chương trình computer trong máy) căn cứ trên thay đổi của một khúc đoạn tên ST được nâng cao hơn bình thường (ST elevation), rất ít khi đọc sai các thay đổi báo hiệu nhồi máu cơ tim, hay cơ tim thiếu oxy cấp tính. Tuy nhiên cần so sánh với thực tế bịnh nhân. ECG có thể cho kết quả dương sai về thiếu máu tim, hay nhồi máu cơ tim trong 1-2% trường hợp (false positive). Một nghiên cứu ở một bịnh viện ở Florida (Tampa Bay Heart Institute) cho thấy 1/3 false positive (38/120 cases) ở các bịnh nhân được thông tim (cardiac catheterization) sau khi kết quả bất thường trên ECG (ST elevation myocardial infarction (STEMI) đã được bác sĩ tim hay bác sĩ phòng cấp cứu thông qua. (https://www.dicardiology.com/article/technical-factors-involved-false-positive-ecg-stemi-diagnoses)
Dù sao thì các ECG bất thường này của bịnh nhân cũng được làm cách đây khá lâu, gần 2 năm. 2 lần làm sau đó thì có vẻ OK.
4) Trong các thử nghiệm không thấy làm stress test, có thể bác sĩ thấy không cần. Tuy nhiên, xin nhắc lại, tốt hơn hết là nhờ một bác sĩ gia đình hay bác sĩ tim theo dõi và giải quyết các câu hỏi hay vấn đề nếu có. Nhiều khi, bịnh nhân có nhiều phương tiện thử nghiệm trong tầm tay cũng là một điều không tốt. Các thử nghiệm luôn luôn có những kết quả dương tính sai, càng thử nhiều lại càng có khả năng gây ra lo âu và nhu cầu thử thêm nữa (cascade effect). Ví dụ, ở Mỹ hiện nay người ta khuyến cáo đừng làm tâm điện đồ lúc bịnh nhân đi khám tổng quát cũng trong chiều hướng đó.
5) Chứng co rút bắp thịt xảy ra lúc một cơ bắp, hay một phần của cơ, hay một nhóm cơ co lại, rút mạnh, ngoài ý muốn và không giãn ra được. Có thể kéo dải chừng vài giây đến 15 phút, đôi khi lâu hơn. Có thể tái đi tái lại nhiều lần. Chứng này gặp ở trẻ con cũng như người lớn, nhưng ít thấy ở trẻ em, và càng lớn tuổi càng bị nhiều hơn. Nhiều nhất là ở tay chân, tuy nhiên các nhóm cơ bắp khác ví dụ ở cổ, bụng đều có thể co rút đau. Chân cẳng co rút ban đêm (Nocturnal leg cramps) xảy đến cho chừng 50% người trên 50 tuổi, và trong đó một trong mười người đau mỗi đêm. Đại đa số chỉ đau ban đêm. Đau ở ngón chân, bắp chuối, hoặc bắp đùi, làm mất ngủ.
Lý do: dây thần kinh trở nên quá nhạy cảm và kích thích bắp thịt cho co lại dù người bịnh không cố ý.
Nguyên nhân co rút bắp thịt:
1) Thương tổn, chấn thương, các bắp cơ co lại để che chở vùng bị hư hại.
2) Các cơ bị mệt do làm việc quá nhiều, quá lâu, hay bị giữ trong một tư thế bất bình thường (ngồi ẹo qua một bên, nhón gót lâu để với lên, làm việc gì trên cao).
3) Co rút lúc đang nghỉ ngơi (rest cramp), ngủ, nhất là vừa làm một động tác làm cơ ngắn lại; ví dụ duỗi các ngón chân về phía dưới, cơ bắp chuối (calf muscle=gastrocnemius muscle+soleus muscle) co lại và rút luôn vào, đau, không tự giãn ra.
4) Cơ thể thiếu nước do mồ hôi lúc trời nóng, thể thao, làm việc; do uống thuốc lợi tiểu (vd để trị bịnh cao huyết áp), uống nhiều trà, cà phê làm đi tiểu nhiều, bịnh đái tháo đường (diabetes); người ít uống nước vì sợ phải đi tiểu.
5) Nói chung mức sodium (natrium), calcium, magnesium trong máu thấp có thể làm cơ dễ co rút. Nguyên nhân calcium máu thấp thường gặp nhất là do thiếu vitamin D. Người có bầu, người già dễ thiếu calcium, magnesium. Người thở quá nhanh do lo (anxiety), hồi hộp, xúc động có thể làm mức calcium trong máu giảm xuống một cách giả tạo và bắp thịt co rút.
6) Những người bịnh xơ gan (liver cirhosis) gây ra ứ nước trong phúc mạc (ascites; phúc mạc= màng bụng), nước phối trí bất bình thường; ở người suy thận, tình trạng nước trong cơ thể bị thay đổi thất thường: những người này hay bị co rút bắp thịt.
7) Co rút bắp thịt có thể do một số thuốc gây ra: thuốc trị bịnh cao huyết áp (như nifedipine= "Procardia"), trị bịnh Alzheimer (Aricept), bịnh suyễn (albuterol, terbutaline), bịnh Parkinson (tolcapone=”Tasmar”), bịnh myasthenia gravis (bịnh làm yếu các cơ, thuốc prostigmin).
8) Co rút (cramps) cũng có thể xảy ra khi ngưng (withdrawal) thuốc an thần, ngưng uống rượu.
9) Thiếu vitamin B1, B5, B6.
10) Các mạch máu bị xơ vữa (atheroslerosis) nghẹt đem máu đến không đủ, làm bắp chuối chân bị đau (claudication) lúc đi bộ được một khoảng xa nào đó, cơn đau giống như bị co rút cơ, "vọp bẻ". Tuy nhiên, đau này do lactic acid và một số hoá chất khác, không phải do bắp thịt co rút (muscle cramps), cần cảnh giác về vấn đề này và nhờ bác sĩ khám bịnh.
Chữa trị:
Đứng dậy, đi lui đi tới cho bắp cơ liên hệ giãn ra (ví dụ trong trường hợp co rút bắp chuối).
Có thể đứng, hai tay dựa vào vách, đưa hai chân ra xa, giữ gót chân dính mặt đất, mục đích duỗi, giãn bắp thịt phía sau cẳng chân (stretch calf muscle).
Hay nằm xuống, duỗi chân thẳng ra, kéo hai ngón cái về phía mình.
Co rút bàn tay: áp bàn tay xuống bàn, các ngón duỗi ra, đè trên các ngón.
Có thể massage, đắp nước nóng.
Nếu thiếu muối, thiếu nước (ví dụ như mổ hôi ra quá nhiều) uống nước có muối natri, kali như chanh muối,Gatorade, Pedialyte cho trẻ em..
Phòng ngừa:
1) Tập thể dục, tập duỗi, giãn các bắp cơ nhiều lần trong ngày, như đã giải thích trong phần chữa trị. Có thể làm giãn cơ vài lần lúc dậy đi tiểu ban đêm. Tránh nằm, ngồi ở thế không ngay ngắn, làm các bắp thịt không thoải mái.
2) Cần lượng calcium đầy đủ trong thực phẩm (uống sữa, ăn đẩu nành, chao). Có thể uống thêm calcium 1-1.50 gram mỗi ngày. Một số người cần uống thêm magnesium, nhưng cần hỏi bác sĩ của mình vì người suy thận magnesium có thể ứ đọng, mức trong máu có thể lên quá cao.
3) Nhớ uống nước đầy đủ, chừng 1,5 -2 lít nước mỗi ngày, nhất là nếu làm việc trời nóng nực, ra mồ hôi nhiều.
4) Người già có thể quên uống nước cho đủ vì không thấy khát. Ở Mỹ, người ta thường khuyên uống 6-8 ly nước mỗi ngày (24 giờ) cho người trung bình chừng 70-80 kg, tuy nhiên người nhỏ con, nhẹ ký hơn phải điều chỉnh lượng nước thấp hơn, cũng như người bịnh phải uống ít nước, phải theo hướng dẫn giới hạn lượng nước của bác sĩ mình.
5) Những khảo cứu gần đây cho thấy khá đông đàn ông ở Sài Gòn cũng như Hà Nội thiếu vitamin D trong máu. Ở đàn bà thì tỷ số thiếu vitamin D cao hơn. Nếu có phương tiện thì đo mức calcium, vitamin D trong máu xem có thấp không.
Ra nắng để giúp da tạo nên vitamin D.Trên lý thuyết, nếu ra nắng vài phút mỗi ngày lúc thời tiết tốt có thể giúp cơ thể cung cấp đủ lượng vitamin D cần thiết.
Uống vitamin D thêm, hay ăn những thức ăn giàu vitamin D (salmon, mackerel, tuna, catfish, fish liver, fish oil).
Nếu có phương tiện, người ta đo mức vitamin D trong máu (25 OH D) và cố gắng giữ trên 30 ng/ml. Ở ngoài nắng đủ lâu để da phỏng nhẹ (mild sunburn) cũng giúp cơ thể chúng ta tạo ra đơn vị mỗi chừng 20,000 đơn vị vitamin D. Chúng ta (người lớn, 19-65 tuổi) cần chừng 600 ngày (thức ăn hoặc uống thuốc bổ), trên 71tuổi: 800 units/ ngày. Mức an toàn chừng dưới 4000 units/ ngày (The Endocrine Society, Practice Guideline, 2011). Ở Mỹ, trong sữa uống, trong một số nước cam có thể nhà sản xuất có tăng cường thêm vitamin D. Các viên thuốc 'bổ' có thể cung cấp cho cơ thể những nhu cầu căn bản về vitamin cũng như các chất khoáng.
6)
  • Có một số người dùng vitamin E (400 đơn vị/ngày), có thể giảm các cơn co rút bắp cơ.
  • Trước đây người ta thấy quinine (kí ninh) rất hiệu nghiệm cho bịnh này. Tuy nhiên vì biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra trên nhịp tim và tế bào máu, cơ quan quản trị thực phẩm và thuốc Mỹ (FDA) từng cảnh báo không dùng quinine cho bịnh này.
  • Ở Mỹ một số bịnh nhân uống "tonic water" có chứa lượng quinine nhỏ (theo FDA < 83mg/lit, vd: Canada Dry, Fever Tree, Q Tonic).
  • Trường hợp cần dùng thuốc, một số bác sĩ cho dùng thuốc Benadryl (diphenhydramine 12.5mg-50mg) trước khi đi ngủ, dùng chloroquine (thuốc trị sốt rét, có thể làm hư mắt), hay gabapentin ( thuốc tác dụng trên hệ thần kinh).
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Hội chứng rung giật cơ lành tính

Hôm nay chúng ta chỉ bàn đến một triệu chứng gọi là Benign fasciculation syndrome" (BFS), tạm dịch là “Hội chứng rung giật cơ lành tính", có thể tương đương với “Chứng giật cơ chưa rõ nguyên nhân" mà vị thính giả nhắc đến. Vì theo nguyên tắc, chúng ta không thể có ý kiến về một trường hợp cá biệt, và thêm nữa những thuật ngữ dùng ở VN hơi khác thuật ngữ tiếng Anh tại Mỹ, nếu đi vào chi tiết có thể gây hiểu lầm.
Về từ ngữ: fasciculation gốc chữ fascia, nghĩa là một chùm, một bó, ở đây, nói về một bó sợi cơ (fasciculus,a bundle of muscle fibers). Mỗi sợi cơ là một tế bào riêng rẻ, hình dài; có bắp cơ (muscle) chứa hàng ngàn sợi cơ, có bắp cơ chỉ có vài chục sợi cơ. Lúc có dòng điện từ các dây thần kinh kích thích, các sợi cơ sẽ co vào trong một thời gian rồi giãn ra.
Trong BFS, một nhóm sợi cơ co giật mà mình không kiểm soát được, chứ không phải toàn cơ bắp, ở những cơ bình thường mình cử động theo ý muốn. Những nơi thường xảy ra là mí mắt, cánh tay , cẳng chân , bàn chân; nhưng cũng có khi ở lưỡi, họng. Rung giật ngưng lúc mình cố tình cử động phần cơ bắp đó, nhưng lại tái diễn lúc mình giữ yên, có thể lan ra vùng bên cạnh, hoặc nhảy qua vùng khác (vd như từ dưới bàn chân, nhảy lên đầu, xuống bụng). Đặc biệt là các cơ không bị liệt, hay bị yếu đi.
Các triệu chứng khác:
-mệt mõi
-đau nhức cơ bắp
-lo âu
-yếu , mau mệt, co rút bắp thịt,
-cảm thấy nghẹn họng (globus sensation, như có cục gì trong họng)
-ngứa
-rung tay chân (tremor)
-tăng các phản xạ gân xương (hyperreflexia)
Nguyên nhân: Chưa hiểu rõ, có thể ở các sợi cơ, các tế bào thần kinh vận động hay nơi tiếp xúc giữa tế bào thần kinh và cơ. Có thể do thiếu magnesium, thiếu calcium do thiếu vitamin D. Một số thuốc: Benadryl dùng lâu dài, morphine lúc cai thuốc có thể gây ra co giật bó sợi cơ.
Định bịnh BFS:
Căn cứ trên triệu chứng lâm sàn. Bác sĩ cần chắc chắn là các cơ không bị liệt hay yếu. Cần loại bỏ trường hợp thiếu Calci, Magnesium, vitamin D, liên hệ tới việc dùng thuốc.
BFS khác với những trường hợp mà fasciculation có thể là thành phần một số bịnh làm bại liệt mà nguyên nhân nằm ở các tế bào thần kinh vận động của tuỷ sống (MND : motor neuron disease). Như bịnh ALS (amyotrophic lateral sclerosis) cũng có fasciculation nhưng triệu chứng chính là các cơ bị teo và bắt đầu ở hai chân bị yếu, hay đi vấp ngã; bịnh nhân chỉ sống được vài năm. Trong cơ điện đồ (EMG) của ALS, có dấu hiệu dây thần kinh bị hư hại, có thể có fasciculation trong EMG (nhưng không đặc thù cho bịnh này), do đó dể gây lẫn lộn giữa benign fasciculation syndrome (bịnh hiền, EMG bỉnh thường) và ALS.
Chữa trị:
-Giảm stress; chữa rối loạn lo âu. Hai thuốc bịnh nhân từng dùng trong nhóm này: Sertralin [Zoloft]), amitryptyline (Elavil)
-Một số thuốc dùng chữa bịnh rung vô căn (essential tremor) : beta blocker, thuốc chống co giật (anticonvulsivant) cũng được dùng cho BFS.
  • Propanolol là thuốc ngăn chặn tác dụng kích thích của loại neurotransmitters như adrenaline (chất tiết tuyến thượng thận). Phản ứng phụ: mệt mõi, nghẹt mũi, tim đập chậm, không dùng cho người bị suyễn.
  • Primidone, là một thuốc chống động kinh. Có thể làm buồn ngủ, lờ đờ, buồn nôn, mất thăng bằng.
  • Gabapentin (Neurontin) chủ trị động kinh. Một thuốc bịnh nhân từng dùng trong nhóm này: (pregabalin [Dayvica])
-Tránh cà phê, thuốc lá.
-Sống lành mạnh điều độ; tập thể thao, thể dục, thiền, đọc kinh, yoga; ngủ đủ giờ, tránh thức khuya, ăn ngủ bất thường, stress.
Dự hậu:
Đa số bịnh nhân thuyên giảm với thời gian. Chữa bịnh lo âu (anxiety) là yếu tố quan trọng nhất.
Có khi bịnh nhân tự khỏi bịnh (spontaneous remission). Nếu bác sĩ không chắc chắn là bịnh BFS mà có thể có dấu hiệu của các bịnh tế bào thần kinh vận động (motor neuron disease) (như teo cơ, liệt, yếu cơ), bác sĩ sẽ cần theo dõi bịnh nhân theo định kỳ, bịnh nhân cần cho bs biết nếu thấy triệu chứng nặng thêm, hay có triệu chứng mới xuất hiện; với thời gian có thể sẽ kết luận dứt khoát hơn. Theo những tài liệu tôi tìm được, không thấy có liên hệ giữa chứng động kinh và đột quỵ với bịnh BFS.
Những nhận xét trên đầy hoàn toàn tổng quát, trong mục đích thông tin. Bịnh nhân cần được bác sĩ khám và hướng dẫn.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Rối loạn tiền đình

Chóng mặt (vertigo) là một triệu chứng bao gồm nhiều nguyên nhân khác nhau. Chóng mặt chúng ta nói ở đây được định nghĩa là cảm giác chuyển động trong lúc thực tế mình không di động (motion), hoặc cảm thấy di động quá mức trong lúc mình chỉ làm một cử động nào đó. Người chóng mặt có thể cảm thấy mọi vật chung quanh chạy vòng vòng hoặc cảm tưởng mình lắc lư muốn té về trước hoặc về sau, như cảm giác say sóng lúc đi trên biển. Thường vertigo gây ra do bịnh lý của một bộ phận trong phần tai trong (inner ear) còn gọi là “mê đạo” (labyrinth) vì nó gồm nhiều ống chứa đầy một chất dịch nối liền với nhau. Mê đạo thu nhận những tín hiệu về âm thanh (thính giác), từ bộ phận gọi là gọi là con ốc (cochlea). Những tín hiệu về phương hướng, vị trí cơ thể đến từ phần của mê đạo gọi là tiền đình (vestibule). Những tín hiệu này được chuyền qua não bộ bằng thần kinh tiền đình (vestibular nerve), là một thành phần của dây thần kinh số 8 (8th cranial nerve, vestibulocochlear nerve).

Trong labyrinth có một phòng nhỏ trong xương gọi là tiền đình (vestibule), chứa một túi nhỏ gắn liền với 3 ống nhỏ, tròn (ống bán khuyên), nằm trên 3 mặt bằng khác nhau nhưng gắn liền chụm vào nhau (superior, posterior and lateral semicircular canals), chứa đầy môt chất dịch lỏng. Bên cạnh là 2 túi nhỏ (saccule và utricle) phụ trách về cảm giác trọng lượng [gravity] và gia tốc hay giảm tốc (acceleration and deceleration).

“Vestibule” có nghĩa là cái sân, khoảnh trống dẫn vào cổng chính của một ngôi nhà. Ở đây các nhà cơ thể học thế kỷ thứ 18 ví von mô tả cái hang trong xương trước khi đi vào các semicircular canals và con ốc cochlea là cái "vestibule". Các nhà cơ thể học Việt Nam dịch ra là "tiền đình" (cần phân biệt với một vùng trước ở bộ phận sinh dục nữ cũng gọi là vestibule).

Mỗi lần đầu chúng ta quay qua lại, gật đầu, ngẫng đầu, nước dịch này di chuyển trong các ống semicircular canals và kích thích các tế bào lông (hair cells, cilia) trong ống. Các tế bào này phát tín hiệu vào não bộ, não bộ phân tích để biết phương hướng mới của cơ thể trong lúc di chuyển. Bộ phận tiền đình có trách nhiệm giúp giữ hai mắt chúng ta giữ focus vào một vật nào đó lúc thân thể chúng ta di động và giúp chúng ta giữ thăng bằng (balance).

Trong utricle và saccule (=otolith organs), có những vật nhỏ gọi là "đá tai" (otolith; oto: tai, lith: đá; nhưng thật ra là những tinh thể rất nhỏ kết tụ với nhau); chúng di động lúc đầu chúng ta lên xuống cao thấp, di chuyển trước sau, phải trái bên này qua bên kia, chúng cho biết vị trí đầu chúng ta so với chiều sức hút quả đất (gravity); (ví dụ lúc đi thang máy chạy lên khác chạy xuống) và gia tốc (acceleration; ví dụ lúc xe chúng ta ngồi chạy vọt lên). Ví dụ nếu cỗ chúng ta nghiêng qua một bên, chúng ta vẫn ý thức đâu là trên trời đâu là dưới đất.

Nếu vì một lý do gì đó, tiền đình một bên bị rối loạn sẽ gởi những tín hiệu sai lạc, là chúng ta cảm thấy sự vật chung quanh xoay vòng vòng (vertigo, spinning sensation) hoặc "lắc lư con tàu đi" (say sóng, dizziness, imbalance).

Nguyên nhân thường gặp nhất gây ra viêm tiền đình (vestibular neuritis, ảnh hưởng trực tiếp đến phần thăng bằng) là do ảnh hưởng của một virus, ví dụ bịnh nhân bị cúm (influenza), nhiễm virus herpes (gây lỡ miệng, trái rạ [thuỷ đậu, chicken pox], hay bịnh zona [dời ăn, herpes zoster, shingles]). Có thể nguyên nhân do một lại vi khuẩn là nhiễm trùng tai giữa và ảnh hưởng đến tai trong (tiền đình thuộc về tai trong). Hiếm hơn, viêm thần kinh tiền đình có thể do viêm màng óc (meningitis).

Triệu chứng: chóng mặt, ói mửa, đi đứng không vững đột ngột. Cần phân biệt với lâng lâng như say rượu (lightheadedness), cảm giác mất thăng bằng (imbalance, muốn té), hay cảm giác sắp xỉu, hoặc xỉu (fainting) vi những lý do khác như đường máu quá thấp, áp huyết quá thấp, máu lên đầu bị giảm vì các động mạch nuôi óc bị nghẽn do xơ động mạch.

Bịnh nhân cần thu thập quan sát và ghi chú chi tiết về cơn chóng mặt của mình để nhờ bs của mình khám và phân tích, nhất là loại bỏ những nguyên nhân quan trọng như nghẽn mạch máu, bịnh não bộ, thiếu máu (anemia).

Tiến trình tự nhiên: đa số bịnh nhân chỉ bị triệu chứng nặng một hai ngày, sau đó các triệu chứng giảm dần. Hiếm khi, các triệu chứng cấp tính kéo dài vài ngày hay vài tuần, tuy nhiên những triệu chứng nhẹ như cảm giác mất thăng bằng còn sót lại, đi đứng không vững có thể kéo dài hàng tháng. Bịnh nhân cải thiện thật nhanh có lẽ nhờ não bộ (thần kinh trung ương) thích ứng với hoàn cảnh mới và tập điều chỉnh theo các tin tức bất bình thường do thần kinh tiền đình mắc bịnh gởi vào. Tuy nhiên, bộ phận tiền đình có thể cần thời gian lâu hơn để hồi phục, và trong một số trường hợp những hư hại của hệ tiền đình trở thành vĩnh viễn, không đảo ngược được, nghĩa là cơ năng của nó bất bình thường.

Thường bịnh nhân chỉ bị bịnh viêm thần kinh tiền đình một lần mà thôi. Trong một nghiên cứu, người ta theo dõi 103 bịnh nhân trong gần 10 năm, và chỉ 2 bịnh nhân bị bịnh lần thứ nhì, ở phía bên kia, khác với lần đầu. Chừng 15% sẽ mắc chứng bịnh chóng mặt từng cơn theo vị trí của đầu (PPV), và một số ít hơn bị rối loạn gồm những cơn khủng hoảng vô cớ (panic disorder)

Chữa trị:

1) Một số bác sĩ dùng corticoid uống. Ví dụ prednisone trong 10 ngày, liều thuốc lúc đầu 60mg prednisone/ngày giảm dần xuống 5mg/ngày. Các nghiên cứu chưa dứt khoát là có lợi về lâu dài, mặc dù có những khảo cứu cho thấy cơ năng tiền đình phục hồi nhanh hơn ở người bịnh dùng corticoid.

2) Các thuốc chữa triệu chứng, ói mữa, mất nước. Ví dụ:

(i) Chất kháng histamine:dimenhydrinate (Dramamine), diphenhydramine (Benadryl), Meclizine (Antivert), Promethazine (Phenergan).

(ii) Thuốc đối kháng hệ đối giao cảm (anticholinergic), vd:scopolamine (Transderm-Scop)

(iii) Thuốc an thần : diazepam (Valium), lorazepam (Ativan)

Thường là chích trong 1-2 ngày đầu ở bịnh viện mà thôi. Sau đó người ta tránh không dùng thuốc nữa vì những thuốc này ức chế cơ năng của tiền đình, làm cho việc thần kinh trung ương thích ứng với hoàn cảnh mới (tiền đình bất bình thường) khó khăn hơn và hồi phục lâu hơn.

3) Vật lý trị liệu để phục hồi cơ năng tiền đình (vestibular rehabilitation): có thể giúp phục hồi nhanh hơn, hay giúp cho những người mà cơ quan tiền đình bị tổn thương vĩnh viễn (permanent injury) giảm thiểu tình trạng của mình.

Càng lớn tuổi, từ 40 tuổi trở đi, lúc mà thể tích não bộ ở điểm cao nhất, não bộ con người càng nhỏ lại. Bình thường, bộ óc người lớn nặng chừng 3 pound (1,3-1,4 kilogram). Cứ một thập niên, 10 năm, cân nặng não bộ nhẹ đi 5%. Hệ thống mạch máu nuôi dưỡng não bộ cũng bị cũ đi và không cung cấp máu và oxy đầy đủ như trước nữa. Khả năng làm việc hay hiểu biết (cognition) cũng giảm theo.

Về triệu chứng não bộ teo trên CT scan, có thể chỉ là hiện tượng tự nhiên ở người lớn tuổi và có thể không liên quan đến bịnh chóng mặt. Tuy nhiên cũng tuỳ theo "teo" nhiều ít, ở vùng nào, ý kiến của bác sĩ quang tuyến như thế nào, có đi kèm theo triệu chứng lâm sàn hay không.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền.

Bệnh sốt mầu đỏ (Scarlet Fever)

Bệnh sốt mầu đỏ thường xẩy ra ở trẻ em từ 5 tới 15 tuổi. Trước thời kỳ thuốc trụ sinh được khám phá ra, bệnh scarlet fever là một bệnh rất đáng sợ nhưng từ khi có trụ sinh, bệnh này có thể được chữa dễ dàng. Tuy nhiên nếu không được định bệnh và chữa trị, chứng này có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm cho tim, thận và những cơ quan khác.
Triệu chứng
Các em mắc bệnh scarlet fever thường có những triệu chứng sau:
- Da nổi mẩn đỏ giống như bị cháy nắng và sờ thấy nhám.
- Những đường mầu đỏ nơi nếp gấp của da chung quanh háng, nách, khuỷu tay, đầu gối và cổ.
- Lưỡi đỏ chót như quả dâu và có những mụn nổi gồ lên, trên phủ một lớp trắng. Triệu chứng này xẩy ra rất sớm.
- Mặt đỏ lên nhưng chung quanh miệng thì tái.
- Sốt cao, ớn lạnh
- Cổ họng đau và đỏ, có thể có mụt trắng hay vàng trên mặt
- Khó nuốt
- Sưng hạch ở cổ
- Buồn nôn và ói
- Nhức đầu
Bệnh nhân thường bị đau cổ họng, sưng hạch và sốt trước, sau đó mới có những triệu chứng “đỏ”. Mẩn đỏ thường nổi ở mặt hay cổ rồi lan xuống ngực, thân mình, tay và chân nhưng không mọc ở lòng bàn tay hay lòng bàn chân. Những mẩn đỏ trên da và lưỡi này thường kéo dài khoảng 1 tuần lễ. Sau khi hết bệnh, da sẽ tróc ra.
Nguyên nhân
Đây là bệnh nhiễm vi trùng tên Streptococcus pyogenes. Vi trùng này thường gây ra bệnh sưng cổ họng nhưng đặc biệt là nếu em nhỏ bị nhằm loại có tiết ra chất độc tố thì chất này sẽ gây ra những triệu chứng mẩn đỏ, lưỡi đỏ… như kể trên.

Vi trùng này lây lan khi bệnh nhân ho hay hắt hơi làm bắn ra những giọt nước nhỏ li ti trong có chứa vi trùng. Nếu bệnh chân che miệng khi ho, giọt nước có vi trùng này đọng lại trên tay họ và dính vào những vật họ chạm vào như điện thoại, nắm cửa… Chúng ta bị lây bệnh khi hít phải những giọt nước có vi trùng trong không khí hoặc chạm vào những vật dụng có dính vi trùng của bệnh nhân rồi đưa lên mũi, miệng mình.

Từ lúc nhiễm vi trùng đến lúc phát bệnh thường là hai tới bốn ngày. Nếu bệnh không được chữa, bệnh nhân có thể vẫn còn lây được cho người khác trong vài tuần lễ cho dù đã hết bệnh. Một số người không bị bệnh nhưng có mang vi trùng trong mũi và có thể lây cho người khác. Vi trùng này cũng có thể lây lan qua đường thức ăn và sữa nhưng không thường xẩy ra lắm.

Hiếm xẩy ra hơn là lọai vi trùng Strep gây ra nhiễm trùng các vết thương hoặc nhiễm trùng tử cung khi sanh nở. Các trường hợp này cũng gây ra các triệu chứng “đỏ” kể trên nhưng không có sưng cổ họng.
Biến chứng
Bệnh sốt đỏ ít khi gây ra biến chứng nặng nếu được chữa trị kịp thời và đầy đủ nhưng biến chứng vẫn có thể xấy ra. Đó là:

- Sốt phong thấp (rheumatic fever): Gây ra những triệuchứng ở khớp xương, tim, da và hệ thần kinh. Lưu chứng kinh niên là hư hoại van tim, bệnh tim và một bệnh thần kinh tên Sydenhams chorea khiến bệnh nhân cảm xúc bất thường, yếu bắp thịt và tay chân mặt bị co giật. Nếu bệnh scarlet fever được chữa trị đúng mức, sẽ ít khi gây ra biến chứng nguy hiểm này.

- Viêm thận (poststreptococcal glomerulonephritis): Thận bị viêm sau bệnh scarlet fever, có thể đưa đến suy thận kinh niên. 

- Tăng triệu chứng bệnh tâm thần: Nhiễm vi trùng strep có thể gây ra một phản ứng làm tăng triệu chứng bệnh của các em đã bị các bệnh tâm thần như obsessive compulsive, Tourette syndrome, hay ADHD. 
- Những biến chứng khác gồm có: Vi trùng trong máu, viêm tai giữa, viêm màng não, viêm xương chẩm sau tai, viêm màng tim, sưng phổi, viêm xoang mũi, viêm khớp xương, mụn nhọt trong cổ họng, nhiễm trùng da.

Định bệnh và chữa trị
Bác sĩ có thể sẽ làm những thử nghiệm sau để định bệnh sau khi khám bệnh: dùng que bông gòn quẹt cổ họng rồi đem cấy để định xem loại vi trùng nào gây bệnh. Thử nghiệm này mất 2 tới 3 ngày mới có kết quả. Bác sĩ cũng có thể dùng những thử nghiệm định bệnh mới hơn, có kết quả ngay nhưng lại không chính xác bằng.

Sau khi định bệnh scarlet fever, bác sĩ có thể sẽ cho bệnh nhân một trong những trụ sinh sau đây:
· Penicillin, uống hay chích
· Amoxicillin (Amoxil, Trimox)
· Azithromycin (Zithromax)
· Clarithromycin (Biaxin)
· Clindamycin (Cleocin)
· Một loại cephalosporin như cephalexin (Keflex) 
Bệnh nhân nên uống hết số thuốc bác sĩ đã cho dù đã cảm thấy khỏe vì nếu không chữa đầy đủ, bệnh nhân có thể bị những biến chứng kể trên. Nếu uống thuốc 24 tới 48 tiếng mà không thấy đỡ, nên gọi bác sĩ.
Sau 24 giờ uống trụ sinh bệnh nhân thường cảm thấy dễ chịu và không còn lây bệnh cho người khác và có thể đi học lại nếu đã hết sốt được 24 giờ.
Ngừa bệnh
Chúng ta nên theo những cách sau đây đề ngừa bệnh Scarlet fever cũng như các bệnh nhiễm trùng khác:
- Rửa tay: Nên rửa cẩn thận đầy đủ bằng nước và xà bông.
- Không dùng chung vật dụng cá nhân như ly nước,muỗng nĩa..
- Che miệng khi ho và hắt hơi bằng tờ giấy và vứt nó vào thùng rác.
- Rửa kỹ đồ dùng của người bệnh bằng nước nóng và xà bông.

BS Nguyễn Thị Nhuận